Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 16-4-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai
  • Các Hội thẩm nhân dân:
  • 1. Bà Lê Thị Khanh
  • 2. Bà Huỳnh Thị Phương Trinh
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 83/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị Thu T, sinh năm 1973; giới tính: nữ; tên gọi khác: không; nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: H, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: buôn bán; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Phạm Đ và bà Nguyễn Thị H1; anh, chị, em ruột: có 04 người; chồng: Lê Thành P (chết); con: Lê Minh T1, sinh năm 1995, Lê Minh T2, sinh năm 2001.

Tiền sự: không; tiền án: không

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Ông Phạm Thanh T3, sinh năm 1971 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: B C, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Ông Lê Minh T1, sinh năm 1995 (vắng mặt);
  • Địa chỉ: G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ ngày 02/8/2023, Đội Cảnh sát kinh tế phối hợp với Công an xã T tuần tra đến trước nhà số F tổ G, ấp M, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện ông Nguyễn Hoàng Anh T4 có dấu hiệu nghi vấn nên tiến hàng kiểm tra thì phát hiện bên trong xe tải có chứa 70 gói cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Best Quality loại 500g, 100 gói cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Cà phê hàng đầu Buôn Mê T5 được ghi trên mặt bao bì. Ông T4 không xuất trình được hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc số cà phê trên và khai nhận Phạm Thị Thu T là người thuê đi giao cho người mua.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Thị Thu T tại địa chỉ nhà không số, tổ G, ấp M, xã T, huyện H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H thu giữ: 20 gói cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Best Quality loại 500 gram; 32 nhãn hiệu cà phê rang xay – Roasted coffee loại 500 gram; 4,7 kg bao bì cà phê; 04 máy xay cà phê; 01 cân màu xanh loại 01kg; 01 cân màu xanh loại 12kg; 01 thau nhựa màu xanh đường kính 64cm, cao 24cm; 01 phiễu kim loại; 01 giá múc cà phê màu trắng; 01 ca múc cà phê màu đỏ; 02 thùng màu đỏ đường kính 62cm, cao đường kính 72cm bên trong có chứa một ít nguyên liệu đậu nành; 01 thùng màu xanh đường kính 56cm, cao 64cm bên trong có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu đỏ đường kính 53cm, cao 54cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu xanh đường kính 62cm, cao 72cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê và 01 máy ép nhựa.

Hộ kinh doanh cá thể Phúc T6 do ông Lê Thành P (chồng của T) làm chủ hộ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Ngành nghề kinh doanh: Rang, xay, gia công, chế biến và mua bán các loại cà phê hạt, bột. Địa chỉ kinh doanh: 76A/1B ấp T, xã T, huyện H. Các sản phẩm chính do hộ kinh doanh P1 sản xuất gồm: cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Cà phê hàng đầu Buôn Mê T5; cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Best Quality và cà phê rang xay – Roasted coffee. Năm 2014, ông P chết, hộ kinh doanh ngưng hoạt động. Đến tháng 6 năm 2023, T bắt đầu xuất cà phê nhãn hiệu Phúc T6 nhưng không đăng ký kinh doanh, không đăng ký nhãn hiệu, không công bố chất lượng và nhãn hiệu sản phẩm. Ba sản phẩm cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ do T sản xuất gồm: Cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Cà phê hàng đầu Buôn Mê T5, loại 500 gram (chỉ tiêu chất lượng ghi trên bao bì: hàm lượng Cafein > 1%), giá bán 35.000đồng/gói; cà phê nhãn hiệu P - Best Quality, loại 500gram (chỉ tiêu chất lượng ghi trên bao bì: hàm lượng Cafein ≥ 1%), giá bán 25.000đồng và cà phê rang xay -Roasded coffe, loại 500gram (chỉ tiêu chất lượng ghi trên bao bì: hàm lượng Cafein ≥ 1%), giá bán 30.000đồng. T thu lợi nhuận 5.000đồng/gói, mỗi tháng thu lợi khoảng 3.200.000 đồng, tổng số tiền thu lợi bất chính là 6.400.000đồng.

Tại Kết quả giám định số 00107/N3.23/TD ngày 19/9/2023 của Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 như sau: Cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Cà phê hàng đầu Buôn Mê T5, loại 500g có hàm lượng cafein là 0,4%; cà phê nhãn hiệu P - B, loại 500g có hàm lượng cafein là 0,4% và Cà phê nhãn hiệu cà phê rang xay – Roasted coffee loại 500g có hàm lượng cafein là 0,3%. Ba mẫu yêu cầu giám định có chất lượng không phù hợp với hàm lượng cafein ghi trên bao bì 03 sản phẩm trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 136/KL-HĐĐGTS ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H kết luận: Tổng giá trị của 03 sản phẩm cà phê thu giữ của Phạm Thị Thu T là 8.090.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

182 gói Cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Cà phê hàng đầu Buôn Mê T5 được ghi trên mặt trước của bao bì, loại 500g; 89 gói Cà phê nhãn hiệu P - Best Quality, loại 500g; 31 gói Cà phê nhãn hiệu cà phê rang xay Roasted coffee loại 500g; 4,7 kg bao bì cà phê; 04 máy xay cà phê; 01 cân màu xanh loại 01kg; 01 cân màu xanh loại 12kg; 01 thau nhựa xanh đường kính 64cm, cao 24cm; 01 phiễu kim loại; 01 giá múc cà phê màu trắng; 01 ca múc cà phê màu đỏ; 02 thùng màu đỏ đường kính 62cm, cao 72cm có chứa một ít nguyên liệu đậu nành; 01 thùng màu xanh đường kính 56cm, cao 64cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu đỏ đường kính 53cm, cao 54cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu xanh đường kính 62cm, cao 72cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 máy ép nhựa;

01 xe ô tô hiệu SUZUKI loại Van mang biển số 51D-006.62; số máy: F10A1067818; số khung: A21VVN102040 do anh Phạm Thanh T3 đứng tên chủ sở hữu. Anh T3 đã bán xe lại cho Phạm Thị Thu T bằng hình thức lập hợp đồng công chứng ủy quyền, hợp đồng ghi tên con trai của T là Lê Minh T1. T sử dụng xe để vận chuyển cà phê giao cho người mua. Lê Minh T1 đứng tên trên hợp đồng ủy quyền xe ô tô biển số 51D-006.62 giúp cho Phạm Thị Thu T nhưng không biết, không tham gia vào việc sản xuất cà phê giả cùng T nên không có căn cứ xử lý hình sự.

Nguyễn Hoàng Anh T4 nhận chở hàng hóa thuê cho T, mỗi chuyến được trả công 300.000đồng, xe tải biển số 51D-006.62 là do T đưa cho T4 làm phương tiện vận chuyển hàng hóa.

Tại Cáo trạng số 95/CT-VKSH.HM ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố bị cáo Phạm Thị Thu T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Thị Thu T phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm, xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ, vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa:

[1] Theo hồ sơ vụ án thể hiện:

Kết luận định giá tài sản số 136/KL-HĐĐGTS ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện H: Tổng giá trị của 03 sản phẩm cà phê thu giữ của Phạm Thị Thu T là 8.090.000 đồng.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo Phạm Thị Thu T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì lợi ích cá nhân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Phạm Thị Thu T về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm” theo khoản 1 Điều 193 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý hàng hóa, xâm phạm đến các doanh nghiệp, người sản xuất, xâm phạm đến sức khỏe người tiêu dùng. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đã khắc phục toàn bộ số tiền thu lợi bất chính, có con đang đi học. Từ đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có công việc ổn định và nơi cư trú rõ ràng. Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo không vi phạm gì mới. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt tù có điều kiện cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 6.400.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo đã nộp 8.090.000 đồng là dư 1.690.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo phải chịu số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã nộp là 6.400.000 đồng, trả lại cho bị cáo số tiền bị cáo nộp dư là 1.690.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng:

182 gói Cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Cà phê hàng đầu Buôn Mê T5 được ghi trên mặt trước của bao bì, loại 500g; 89 gói Cà phê nhãn hiệu P - Best Quality, loại 500g; 31 gói Cà phê nhãn hiệu cà phê rang xay–Roasted coffee loại 500g; 4,7 kg bao bì cà phê: Cần tịch thu tiêu hủy.

04 máy xay cà phê; 01 cân màu xanh loại 01kg; 01 cân màu xanh loại 12kg; 01 thau nhựa xanh đường kính 64cm, cao 24cm; 01 phiễu kim loại; 01 vá múc cà phê màu trắng; 01 ca múc cà phê màu đỏ; 02 thùng màu đỏ đường kính 62cm, cao 72cm có chứa một ít nguyên liệu đậu nành; 01 thùng màu xanh đường kính 56cm, cao 64cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu đỏ đường kính 53cm, cao 54cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu xanh đường kính 62cm, cao 72cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 máy ép nhựa: Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

01 xe ô tô hiệu SUZUKI loại Van mang biển số 51D-006.62; số máy: F10A1067818; số khung: A21VVN102040 do Phạm Thanh T3 đứng tên chủ sở hữu. Anh T3 đã bán xe lại cho Phạm Thị Thu T bằng hình thức lập hợp đồng công chứng ủy quyền, hợp đồng ghi tên con trai của T là Lê Minh T1. T sử dụng xe để vận chuyển cà phê giao cho người mua: Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 193, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Áp dụng Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị Thu T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm”, thời gian thử thách là 05 (năm) năm.

Giao bị cáo Phạm Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H nơi bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo (các bị cáo được hưởng án treo đã được giải thích về chế định án treo).

2. Xử lý vật chứng:

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 182 gói Cà phê nhãn hiệu Phúc Thọ - Cà phê hàng đầu Buôn Mê T5 được ghi trên mặt trước của bao bì, loại 500g; 89 gói Cà phê nhãn hiệu P - Best Quality, loại 500g; 31 gói Cà phê nhãn hiệu cà phê rang xay – Roasted coffee loại 500g; 4,7 kg bao bì cà phê.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật chứng ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

2.2. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 04 máy xay cà phê; 01 cân màu xanh loại 01kg; 01 cân màu xanh loại 12kg; 01 thau nhựa xanh đường kính 64cm, cao 24cm; 01 phiễu kim loại; 01 vá múc cà phê màu trắng; 01 ca múc cà phê màu đỏ; 02 thùng màu đỏ đường kính 62cm, cao 72cm có chứa một ít nguyên liệu đậu nành; 01 thùng màu xanh đường kính 56cm, cao 64cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu đỏ đường kính 53cm, cao 54cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 thùng màu xanh đường kính 62cm, cao 72cm có chứa một ít nguyên liệu cà phê; 01 máy ép nhựa.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật chứng ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

2.3. Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe ô tô hiệu SUZUKI loại Van mang biển số 51D-006.62; số máy: F10A1067818; số khung: A21VVN102040.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật chứng ngày 15/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn).

2.4. Buộc bị cáo Phạm Thị Thu T phải chịu số tiền thu lợi bất chính bị cáo đã nộp là 6.400.000 đồng theo biên lai thu số 1035 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn. Hoàn trả cho bị cáo 1.690.000 đồng còn dư.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Thị Thu T phải chịu 200.000 đồng.

4. Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Công an huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm)

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sản xuất, buôn bán hàng giả là thực phẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hàng giả
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger