Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 89/2024/HS-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định

Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 77/2024/QĐXXST-HS ngày 01/8/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T, tên gọi khác: không có; sinh ngày 04 tháng 01 năm 1967 tại huyện T, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: khối 20/7, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện nay: thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng A và bà Lê Thị N; có vợ là Trần Thị D; có 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt quả tang ngày 12/4/2024, tạm giữ từ ngày 12/4/2024 đến ngày 21/4/2024, tạm giam từ ngày 21/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Tiến D1, sinh năm 1999; địa chỉ: thôn A, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 2003; địa chỉ: thôn C, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 12/4/2024, tại thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Công an thị xã Q phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại túi quần bên phải, phía trước của T đang mặc 02 (hai) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, dạng cục. T khai là ma túy (loại H) mua để sử dụng.

Tại Bản Kết luận giám định số 523/KL-KTHS ngày 17/04/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Hoàng Văn T gửi giám định là ma túy, loại: Heroine. Khối lượng mẫu vật kí hiệu M1 là 0,046 gam (không phẩy không bốn sáu gam); khối lượng mẫu vật kí hiệu M2 là 0,057 gam (không phẩy không năm bảy gam). Tổng cộng: 0,103g (không phẩy một không ba gam).

Bản cáo trạng số 1317/CT-VKSQY ngày 09/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên đã truy tố Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị:

  • - Căn cứ: điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 12/4/2024. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo;
  • - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma tuý hoàn lại sau giám định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T khai nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 1992, khoảng 20 giờ ngày 12/4/2024, T đi từ nhà trọ ở thôn B, xã L, thị xã Q đến khu vực huyện T, thành phố Hải Phòng để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp và mua 02 gói ma túy (loại Heroine) của một người đàn ông không quen biết với giá 400.000 đồng, đến khoảng 21 giờ cùng ngày đang trên đường đi về nhà trọ thì bị Công an phát hiện bắt giữ.

Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tiến D1 và anh Hoàng Văn Đ có lời khai trong quá trình điều tra có trong hồ sơ thể hiện: khoảng 21 giờ 00 phút ngày 12/04/2024 đang đi trên đường thuộc thôn B, xã L thì thấy lực lượng Công an đang tiến hành kiểm tra một người đàn ông, quá trình kiểm tra lực lượng Công an phát hiện và thu giữ tại túi quần bên phải mà người đàn ông đó đang mặc trên người có 02 bọc giấy trắng. Khi được lực lượng Công an hỏi tên tuổi, địa chỉ người đàn ông đó khai tên là Hoàng Văn T, sinh năm 1967, nơi ở hiện tại thôn B, xã L, thị xã Q, Quảng Ninh và người đàn ông tự khai nhận chất bên trong 02 bọc giấy kể trên là ma túy Heroin, mục đích người đó tàng trữ số ma túy trên là sử dụng nhưng chưa kịp dùng thì bị lực lượng công an bắt giữ. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản và mời về trụ sở để khai báo sự việc, các anh Nguyễn Tiến D1, anh Hoàng Văn Đ được chứng kiến. Lời khai của anh Nguyễn Tiến D1 và anh Hoàng Văn Đ và lời khai của bị cáo T tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, của Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T thừa nhận hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Văn T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai xác nhận của người chứng kiến và nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 12/4/2024, tại thôn B, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,103gr (không phây một không ba) gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thị xã Q phát hiện bắt quả tang. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về hình phạt:

[3.1]Hình phạt chính:

- Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt nghiêm, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để rèn luyện, giáo dục bị cáo sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo nghiện ma túy, lao động tự do không có công việc và thu nhập ổn định, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định trong 01 (một) phong bì niêm phong số 523/KL-KTHS, ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, đây là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

[5] Về các tình tiết khác trong vụ án: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được con người cụ thê nên không có căn cứ xử lý.

[6]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
    • - Tuyên bố: bị cáo Hoàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
    • - Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 12/4/2024.
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: mẫu vật hoàn lại sau giám định trong 01 (Một) phong bì niêm phong số 523/KL-KTHS, ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
    • (Toàn bộ số vật chứng, tài sản trên có đặc điểm và tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 09 giờ, 15 phút, ngày 12/7/2024 giữa Công an thị xã Q với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ: khoản 1 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo Hoàng Văn T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Tòa án ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát NDTX Quảng Yên;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TX Quảng Yên;
  • - Cơ quan THAHS Công an TX Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS TX Quảng Yên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Phúc Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn Tâm phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger