TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15-7-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Ngọc Côn.
2. Ông Trần Đăng Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện
Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia
phiên toà: Bà Ngô Thị Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 120/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QÐST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thị M, sinh năm 1988. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Giáp Văn T, sinh năm 1989. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/4/2024 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Trương Thị M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Giáp Văn T kết hôn với nhau vào năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cuộc sống ban đầu hạnh phúc, nhưng khi chung sống được với nhau thì đến khoảng năm 2022 thì hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho cuộc sống không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai nữa, thậm chí có những lần anh T còn đánh đập chị. Chị và anh T ly thân với nhau từ tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Hai bên gia đình cũng hòa giải nhưng không được. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh Giáp Văn T, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Giáp Văn T.
- Về con chung: Chị và anh Giáp Văn T có 02 con chung là Giáp Thị V, sinh ngày 09/7/2011 và Giáp Thị T1, sinh ngày 01/5/2013. Sau khi ly hôn đề nghị để anh T nuôi dưỡng cả hai con chung. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chị và anh Giáp Văn T tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Trương Thị M và anh Giáp Văn T tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/4/2024 cháu Giáp Thị T1 và cháu Giáp Thị V cùng trình bày: Nguyện vọng của cháu là ở với bố Giáp Văn T.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/4/2024 bà Vũ Thị Đ trình bày: Bà là mẹ ruột của anh Giáp Văn T và là mẹ chồng của chị Trương Thị M. Anh Giáp Văn T và chị Trương Thị M kết hôn với nhau vào năm 2010. Trước khi cưới có được bố mẹ hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn thì chị M có về chung sống cùng gia đình nhà bà ngay. Quá trình chung sống anh T chị M có hai con chung là cháu Giáp Thị T1 và Giáp Thị V. Từ khi hai cháu sinh ra thì chị M đi làm ăn xa còn anh T vẫn đi làm tại địa phương. Quá trình anh T chị M đi làm thì bà là người chăm sóc nuôi dưỡng hai con chung của chị M anh T. Anh T đi làm gần đây sáng đi tối về và có phụ giúp bà cùng chăm sóc các cháu. Chị M đi làm cả năm thỉnh thoảng mới về nhà, một hai lần vào cuối tuần. Do vậy bà đề nghị để anh T chăm sóc các cháu. Anh T hiện nay đi làm ăn, thỉnh thoảng có về nhà ở mấy ngày rồi lại đi. Hiện nay, anh T vẫn ở cùng khẩu với bà tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang chưa cắt hay chuyển khẩu đi đâu. Quá trình Toà án đến làm việc bà có nhận được các giấy tờ văn bản, con trai bà không có mặt ở nhà nên bà có nhận thay và báo lại cho anh T được biết thì anh T có trình bày là không nhất trí ly hôn với chị M nhưng chị M kiên quyết ly hôn thì anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung anh T có nguyện vọng nuôi cả hai con chung là cháu V và cháu T1, về vấn đề cấp dưỡng anh không đề nghị Toà án giải quyết. Về tài sản chung, công nợ chung anh không đề nghị Toà án giải quyết. Trong thời gian anh T đi àm thì anh T cũng nhất trí để bà trông nom nuôi dưỡng hai con chung. Bà cũng nhất trí với ý kiến của anh T là nhận chăm sóc các cháu khi anh T đi làm và không có ý kiến gì. Hiện nay anh T đi làm địa chỉ cụ thể ở đâu thì bà không biết vì anh T không nói cho bà biết.
Tại biên bản xác minh ngày 01/4/2024 đối với ông Ngô Văn L, phó thôn M, xã T cung cấp: Anh Giáp Văn T vẫn là công dân của thôn chưa chuyển đi đâu. Hiện nay anh T đi làm ở địa phương khác, cụ thể đi đâu, làm gì ở đâu thì chính quyền địa phương không nắm được vì anh T không thông báo cho chính quyền địa phương được biết. Chị M anh T kết hôn với nhau vào năm 2010, sau khi kết hôn có về chung sống cùng nhau ngay tại thôn. Quá trình chung sống chị M anh T có xảy ra mâu thuẫn chị M có bỏ nhà đi. Cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn như nào thì thôn không nắm được vì anh chị không thông báo đến chính quyền thôn để hòa giải. Quá trình chung sống anh chị có hai con chung là cháu V và cháu T1. Anh T chị M chung sống cùng bà Đ là mẹ đẻ anh T, anh T chị M thường xuyên đi làm ăn xa. Thời gian anh T chị M đi làm ăn xa thì các cháu V và cháu T1 đều do bà Đ chăm sóc từ nhỏ đến giờ phát triển ổn định.
Tại Công văn số 1873/QLXNC ngày 31/5/2024 của Phòng Q, Công an tỉnh B về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh cung cấp: Qua tra cứu thông tin dữ liệu anh Giáp Văn T, sinh năm 1989, địa chỉ: thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang có số CCCD 0024089006964 hiện không có thông tin cấp hộ chiếu và thông tin xuất nhập cảnh.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Giáp Văn T vắng mặt không có lý do. Anh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy báo; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo về kết quả phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh T không cung cấp văn bản ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị M, không tham dự phiên họp, phiên hòa giải nên Tòa án không thu thập lời khai, ý kiến của anh T được.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Giáp Văn T vắng mặt lần thứ hai không lý do. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án và công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị hội đồng xét xử xử: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị M, cho chị Trương Thị M được ly hôn với anh Giáp Văn T.
- Về con chung: Giao cho anh Giáp Văn T trực tiếp nuôi dưỡng các con chung của vợ chồng là cháu Giáp Thị V, sinh ngày 09/7/2011 và Giáp Thị T1, sinh ngày 01/5/2013. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị Trương Thị M phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị M có đơn xin ly hôn với anh Giáp Văn T. Bị đơn anh Giáp Văn T đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử xác định: Về quan hệ pháp luật đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trương Thị M vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Giáp Văn T vắng mặt, Tòa án đã triệu tập lần thứ hai nhưng anh Giáp Văn T vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã ghi đúng, đầy đủ địa chỉ của bị đơn. Anh Giáp Văn T có nơi cứ trú tại thôn M, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại Công văn số 1873/QLXNC của Phòng Q, Công an tỉnh B cung cấp thông tin hiện nay anh Giáp Văn T chưa có thông tin cấp hộ chiếu và xuất nhập cảnh. Căn cứ quy định tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; khoản 3 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 23 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết theo thủ tục chung và xét xử vắng mặt anh Giáp Văn T, chị Trương Thị M.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Trương Thị M và anh Giáp Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang vào ngày 27 tháng 10 năm 2010. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Như vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
[4] Trong quá trình chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị M anh T không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau làm cho tình cảm vợ chồng không còn, chị M anh T đã sống ly thân với nhau một thời gian. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị M anh T là có thật. Sau khi thụ lý vụ án chị M cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau nữa. Quá trình giải quyết, chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
[5] Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cả chị Trương Thị M và anh Giáp Văn T đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo như các quy định đã nêu ở trên. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trương Thị M và anh Giáp Văn T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Trương Thị M được ly hôn anh Giáp Văn T.
[6] Về con chung: Chị Trương Thị M và anh Giáp Văn T có hai con chung là cháu Giáp Thị V, sinh ngày 09/7/2011 và Giáp Thị T1, sinh ngày 01/5/2013. Hiện nay, cả hai con chung đều đang ở cùng với anh T. Trong thời gian anh T đi làm ăn ngoài địa phương thì 02 con chung do bà Vũ Thị Đ là mẹ đẻ anh T chăm sóc, hiện nay cháu T1 và cháu V phát triển khoẻ mạnh bình thường, mọi mặt trong cuộc sống đều được đảm bảo, anh T có nguyện vọng nuôi dưỡng cả hai con chung, chị M cũng có nguyện vọng để 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng, 02 con chung là cháu T1 và cháu V cũng có nguyện vọng ở cùng anh T khi bố mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị M anh T sống ly thân với nhau được một thời gian dài, trong thời gian sống ly thân 02 con chung ở cùng anh T do anh T và mẹ anh T là bà Đ chăm sóc phát triển ổn định. Mặc dù hiện nay anh T đi làm không có mặt ở nhà nhưng trong thời gian anh T vắng nhà 02 con chung vẫn được mẹ anh T ở cùng nhà trông nom chăm sóc ổn định, hiện nay chị M đi làm xa cũng có nguyện vọng để anh T nuôi 02 con chung, 02 con chung cũng có nguyện vọng ở cùng anh T. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển của các con chung, tránh sự xáo trộn môi trường sống, học tập ổn định của các con chung cần giao các con chung cho anh Giáp Văn T chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự cũng như nguyên vọng của các con chung, phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[8] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, cần buộc chị Trương Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho chị M anh T ly hôn, giao 02 con chung cho anh T nuôi dưỡng và nghĩa vụ chịu án phí là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận
[10] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Trương Thị M được ly hôn với anh Giáp Văn T.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Giáp Thị V, sinh ngày 09/7/2011 và cháu Giáp Thị T1, sinh ngày 01/5/2013 cho anh Giáp Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi các con chung không đặt ra xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn chị Trương Thị M được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở chị Trương Thị M thực hiện quyền này.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Chị Trương Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006051 ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Trương Thị M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lục Ngạn; - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn. - UBND xã Tân Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang (số 58/2010); - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Đức Nhường |
Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đSF
