Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/DS-ST

Ngày: 15-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU - TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Ánh Nhạn;
  2. Bà Trần Thị Thúy.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Minh Nhựt Quang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá Xanh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 153/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 54/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).

Địa chỉ trụ sở: Số B, N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc H - Phó Giám đốc Chi nhánh kiêm Trưởng phòng giao dịch G. Địa chỉ liên hệ: KP4/9AC, Nội ô B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản uỷ quyền số 3525/2023/QĐ-PL ngày 25/12/2023).

Người đại diện theo uỷ quyền của ông H là ông Nguyễn Minh C, chức vụ: Trưởng bộ phận Quản lý tín dụng & Kiểm soát rủi ro (Theo văn bản uỷ quyền số 40/GUQ-PGDGD ngày 03/4/2024). “vắng mặt”

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Huỳnh Trâm A, sinh năm 1995. “vắng mặt”

Địa chỉ: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 28/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn - ông Nguyễn Minh C đã khai:

Ngày 14/8/2023, bà Nguyễn Huỳnh Trâm A (CCCD: [...]) có ký Giấy Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân với Ngân hàng TMCP S - Phòng giao dịch tại huyện G (gọi tắt là ngân hàng) số tiền 30.000.000 đồng. Đến ngày 18/8/2023, ngân hàng cấp cho bà A một thẻ tín dụng có số thẻ tín dụng quốc tế Visa: 472074-9347 để thanh toán khi thực hiện các giao dịch mua hàng, với hạn mức 30.000.000 đồng, khi nào sử dụng thẻ thì ngân hàng mới bắt đầu tính lãi, còn không chỉ duy trì phí thường niên. Lãi suất phát hành thẻ là 33,2%/năm (2,77%/tháng), lãi suất thay đổi theo từng kỳ và được S1 niêm yết, lãi suất quá hạn là 150% trong hạn. Thông quả thẻ tín dụng đã được cấp, bà A sử dụng ứng dụng S1 để thực hiện các hợp đồng tín dụng sau:

- Ngày 21/8/2023, bà A vay theo Hợp đồng tín dụng số LD0000304044, số tiền tổng cộng 20.000.000 đồng, lãi suất khi vay là 1,5%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 5 tháng, hình thức nộp tiền lại vào thẻ qua thông báo của ngân hàng. Bà A thanh toán được số tiền gốc và tiền lãi là 8.729.000 đồng. Sau đó, bà A không thanh toán theo thỏa thuận nên ngân hàng chuyển qua quá hạn từ ngày 25/02/2024, với số tiền gốc và lãi trong hạn còn nợ (dư nợ) là 13.416.000 đồng. Đến ngày 15/7/2024, bà A còn nợ số tiền 15.780.570 đồng, trong đó dư nợ là 13.416.000 đồng và lãi quá hạn là 2.364.570 đồng.

- Ngày 25/8/2023, bà A tiếp tục vay theo Hợp đồng tín dụng số LD0000307487, số tiền tổng cộng 7.000.000 đồng, lãi suất khi vay là 1,5%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 5 tháng, hình thức nộp tiền lại vào thẻ qua thông báo của ngân hàng. Bà A thanh toán được số tiền gốc và tiền lãi là 1.505.000 đồng. Sau đó, bà A không thanh toán theo thỏa thuận nên ngân hàng chuyển qua quá hạn từ ngày 25/02/2024, với số tiền gốc và lãi trong hạn còn nợ (dư nợ) là 6.340.000 đồng. Đến ngày 15/7/2024, bà A còn nợ số tiền 7.457.425 đồng, trong đó dư nợ là 6.340.000 đồng và lãi quá hạn là 1.117.425 đồng.

- Ngày 19/10/2023, bà A tiếp tục vay theo Hợp đồng tín dụng số LD0000341660, số tiền tổng cộng 10.000.000 đồng, lãi suất khi vay là 1,4%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 6 tháng, hình thức nộp tiền lại vào thẻ qua thông báo của ngân hàng. Bà A không thanh toán tiền gốc và tiền lãi lần nào theo thỏa thuận nên ngân hàng chuyển qua quá hạn từ ngày 25/02/2024, với số tiền gốc và lãi trong hạn còn nợ (dư nợ) là 11.020.000 đồng. Đến ngày 15/7/2024, bà A còn nợ số tiền 12.884.584 đồng, trong đó dư nợ là 11.020.000 đồng và lãi quá hạn là 1.864.584 đồng.

Bà A có thanh toán tiền gốc khoản vay 20.000.000 đồng và 7.000.000 đồng nên thẻ tín dụng của bà A được trừ số tiền gốc đã thanh toán. Ngày 19/10/2023, bà A tiếp tục vay theo Hợp đồng tín dụng số LD0000341660, số tiền tổng cộng 10.000.000 đồng, lãi suất khi vay là 1,4%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 6 tháng, hình thức nộp tiền lại vào thẻ qua thông báo của ngân hàng. Bà A không thanh toán tiền gốc và tiền lãi lần nào theo thỏa thuận nên ngân hàng chuyển qua quá hạn từ ngày 25/02/2024, với số tiền gốc và lãi trong hạn còn nợ (dư nợ) là 11.020.000 đồng. Đến ngày 15/7/2024, bà A còn nợ số tiền 12.884.584 đồng, trong đó dư nợ là 11.020.000 đồng và lãi quá hạn là 1.864.584 đồng.

Do bà A vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên ngân hàng áp dụng mức lãi phạt là 150% trên lãi suất đã thỏa thuận số tiền nợ theo Điều 3 của các Hợp đồng tín dụng từ ngày 25/02/2024. Do đó, ngân hàng yêu cầu bà A trả số tiền còn nợ đến ngày 15/7/2024 là 36.122.579 đồng (trong đó dư nợ đến ngày 25/02/2024 là 30.776.000 đồng và tiền lãi quá hạn từ ngày 25/02/2024 đến ngày 15/7/2024 là 5.346.579 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi theo các hợp đồng tín dụng bà A đã giao kết với ngân hàng.

Bị đơn - bà Nguyễn Huỳnh Trâm A:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không ghi lời khai, không tiến hành hòa giải được, đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho bà A đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng bà A vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Bị đơn là bà A đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt và không có yêu cầu phản tố nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà A. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 90, 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu Ngân hàng TMCP S đối với bà Nguyễn Huỳnh Trâm A. Buộc bà A có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền 30.776.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện bà Nguyễn Huỳnh Trâm A về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, bà A có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Tây Ninh, do đó căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Huỳnh Trâm A vắng mặt không có lý do và không có yêu cầu phản tố nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà A. Bà A phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 6, 72 và 91 Bộ luật tố tụng Dân sự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng: Nhận thấy giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Huỳnh Trâm A có ký kết Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 14/8/2023. Đến ngày 18/8/2023, ngân hàng cấp cho bà A một thẻ tín dụng có số thẻ tín dụng quốc tế Visa: 472074-9347 để thanh toán khi thực hiện các giao dịch mua hàng, với hạn mức 30.000.000 đồng là sự kiện thực tế xảy ra. Thông quả thẻ tín dụng đã được cấp, bà A sử dụng áp S1 để thực hiện các hợp đồng tín dụng như sau:

- Ngày 21/8/2023, bà A vay theo Hợp đồng tín dụng số LD0000304044 (hay Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng, kiêm giấy nhận nợ số LD0000304044) với số tiền tổng cộng là 20.000.000 đồng, lãi suất khi vay là 1,5%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 5 tháng, hình thức thanh toán nộp tiền lại vào thẻ tín dụng theo thông báo của ngân hàng.

Sau khi vay, bà A thanh toán được số tiền gốc và tiền lãi là 8.729.000 đồng. Đến ngày 15/7/2024, bà A còn nợ số tiền 15.780.570 đồng, trong đó dư nợ là 13.416.000 đồng và lãi quá hạn là 2.364.570 đồng.

- Ngày 25/8/2023, bà A vay theo Hợp đồng tín dụng số LD0000307487 (hay Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng, kiêm giấy nhận nợ số LD000030748) với số tiền tổng cộng là 7.000.000 đồng, lãi suất khi vay là 1,5%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 5 tháng, hình thức thanh toán nộp tiền lại vào thẻ tín dụng theo thông báo của ngân hàng. Sau khi vay, bà A thanh toán được số tiền gốc và tiền lãi là 1.505.000 đồng. Đến ngày 15/7/2024, bà A còn nợ số tiền 7.457.425 đồng, trong đó dư nợ là 6.340.000 đồng và lãi quá hạn là 1.117.425 đồng.

- Ngày 19/10/2023, bà A vay theo Hợp đồng tín dụng số LD0000341660 (hay Giấy đề nghị kiêm hợp đồng tín dụng, kiêm giấy nhận nợ số LD0000341660) với số tiền tổng cộng 10.000.000 đồng, lãi suất khi vay là 1,4%/tháng, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất thỏa thuận, thời hạn vay 6 tháng, hình thức thanh toán nộp tiền lại vào thẻ tín dụng theo thông báo của ngân hàng. Sau khi vay, bà A không thanh toán lần nào đối với số tiền gốc và tiền lãi. Đến ngày 15/7/2024, bà A còn nợ số tiền 12.884.584 đồng, trong đó dư nợ là 11.020.000 đồng và lãi quá hạn là 1.864.584 đồng.

Việc ký kết các hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và bà A thông qua phương tiện điện tử dưới hình thông điệp điện tử (ứng dụng Sacombak Pay) là phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 38 của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và khoản 1 Điều 119 của Bộ luật dân sự. Các hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và bà A thỏa thuận về mức lãi suất, phí dịch vụ như nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng. Sau khi vay, bà A không thanh toán theo thỏa thuận nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ sang nợ quá hạn từ ngày 25/02/2024 đối với 03 hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 3 của các hợp đồng tín dụng do hai bên giao kết. Bà A không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng là vi phạm các hợp đồng tín dụng đã giao kết. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà A trả số tiền còn nợ đến ngày 15/7/2024 là 36.122.579 đồng (trong đó: dư nợ đến ngày 25/02/2024 là 30.776.000 đồng và tiền lãi quá hạn đến ngày 15/7/2024 là 5.346.579 đồng) và tiếp tục tính lãi theo các hợp đồng tín dụng đã giao kết là có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Bà A phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự. Ngân hàng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 38 của Luật Giao dịch điện tử năm 2005; Điều 119 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Nguyễn Huỳnh Trâm A.

Buộc bà Nguyễn Huỳnh Trâm A có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền đến ngày 15/7/2024 là 36.122.579 (ba mươi sáu triệu một trăm hai mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi chín) đồng, trong đó:

  • - Theo Hợp đồng tín dụng số LD0000304044 ngày 21/8/2023, dư nợ là 13.416.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 2.364.570 đồng.
  • - Theo Hợp đồng tín dụng số LD0000307487 ngày 25/8/2023, dư nợ là 6.340.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 1.117.425 đồng.
  • - Theo Hợp đồng tín dụng số LD0000341660 ngày 19/10/2023, dư nợ là 11.020.000 đồng và tiền lãi quá hạn là 1.864.584 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (16/7/2024), nếu bà Nguyễn Huỳnh Trâm A chưa thanh toán số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP S thì bà A còn phải chịu khoản tiền lãi theo các Hợp đồng tín dụng số LD0000304044, Hợp đồng tín dụng số LD0000307487 và Hợp đồng tín dụng số LD0000341660 đã giao kết cho đến khi thanh toán xong.

Trường hợp trong các hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Huỳnh Trâm A phải chịu 1.806.000 (một triệu tám trăm lẻ sáu nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 780.000 (bảy trăm tám mươi nghìn) đồng theo biên lai số: 0013891 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCP S, bà Nguyễn Huỳnh Trâm A được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp pháp.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh
  • - Phòng GĐKTNV&THA;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - CC.THADS huyện Gò Dầu;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Tiến Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU - TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 89/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU - TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa Sacombank - Nguyễn Huỳnh Trâm A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger