Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST.

Ngày: 15/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị An;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Loan.

Bà Nguyễn Thị Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Hà Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 70/2024/TLST - HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/HSST-QĐ ngày 03/4/2024 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Gia T, sinh 1966; Giới tính: Nam; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: Số C ngách D ngõ T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/10; Con ông: Phạm Gia T1, sinh năm 1947; Con bà: Nguyễn Thị C (đã chết); Vợ: Trần Kim L, sinh năm 1970 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1990; D chỉ bản số 42 lập ngày 06/01/2024 tại Công an quận Đ, Hà Nội;

Nhân thân:

  • - Từ năm 1985 đến 1991 có 02 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản và Đánh bạc.
  • - Bản án số 1566/HSST ngày 22/10/1998, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 6/7/2008, không có thông tin về việc nộp án phí 50.000 đồng và khoản nộp phạt sung công 20.000.000 đồng.
  • - Ngày 31/03/2009, bị công an quận Đ xử phạt hành chính về hành vi Hủy hoại tài sản.
  • - Bản án số 160/HSST ngày 16/4/2013, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 5 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự cũ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/9/2017, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án (đã xóa án tích).

Bị bắt quả tang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H (có mặt).

2/ Hoàng Thị C1, sinh 1971; Giới tính: Nữ; Nơi ĐKNKTT: Số A G, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; Con ông: Hoàng Văn B (đã chết); Con bà: Đỗ Thị B1 (đã chết); Chồng: Vũ Văn C2, sinh năm 1961; D chỉ bản số 41 lập ngày 06/01/2024 tại Công an quận Đ, Hà Nội;

Nhân thân:

  • - Bản án số 1288/HSST ngày 18/10/1997, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/10/1998, chưa chấp hành khoản nộp phạt sung công quỹ 19.800.000 đồng (chưa xóa án tích).
  • - Ngày 17/4/2003, bị công an phường V xử phạt hành chính về hành vi Chống người thi hành công vụ.
  • - Bản án số 24/HSST ngày 23/01/2007, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử 7 năm 6 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự cũ. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2012, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án (đã xóa án tích).

Bị bắt quả tang, bị tạm giữ tạm giam từ ngày 27/12/2023; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27/12/2023, tại khu vực trước số nhà A ngách D ngõ T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường Q phát hiện Phạm Gia T chở Hoàng Thị C1 đi trên chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen biển kiểm soát 30N1- 2400 (số khung: 127178, số máy: 2627240) có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu T dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra đối với T, Tổ công tác phát hiện T thả từ lòng bàn tay trái xuống dưới đất 01 gói nilong màu trắng kích thước 01x02cm bên trong chứa chất bột mầu trắng. Tại chỗ, T và C1 cùng khai nhận chất bột màu trắng là H, T vừa mua được mục đích để cùng C1 sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong tang vật, đồng thời tạm giữ của T chiếc xe máy nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định số 166/KL- KTHS ngày 4/01/2024, Phòng K - Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu trắng là ma túy loại Heroine, khối lượng 0,185 gam”.

Tại Cơ quan điều tra, T và C1 khai nhận:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, C1 qua nhà T chơi và rủ T đi mua Heroine để cùng sử dụng. T đồng ý, sau đó lấy chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 30N1- 2400 chở C1 đến ngõ B phố K, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội để mua ma túy. Trên đường đi C1 đưa cho T 200.000 đồng để T mua ma túy. C1 đợi ngoài đầu ngõ, T đi bộ một mình vào trong ngõ, sử dụng số tiền 200.000 đồng C1 đưa, mua của một đối tượng nam giới không quen biết 01 gói ma túy loại Heroine. T cầm gói ma túy mua được ở lòng bàn tay trái rồi đi ra chỗ C1 đợi, chở C1 đi về để cùng sử dụng ma túy, khi đi đến khu vực trước số nhà A ngách D ngõ T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội thì bị cơ quan công an kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.

Lời khai của C1 và T phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai nhân chứng chứng kiến quá trình kiểm tra bắt giữ 02 bị cáo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T, T khai không biết tên tuổi, địa chỉ và không nhận dạng được, do đó Cơ quan điều tra không đủ cơ sở tài liệu để điều tra làm rõ.

Đối với chiếc xe máy Honda Wave BKS 30N1- 2400, qua điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe là ông Phạm Gia T1 (sinh năm 1945; trú tại số C ngách D ngõ T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội). Ông T1 không biết việc con trai là T mượn xe.

Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 29/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã quyết định truy tố Phạm Gia T và Hoàng Thị C1 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Các bị cáo khai như đã khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận hành vi do mình thực hiện là phạm tội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Gia T từ 16 đến 20 tháng tù.

Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Thị C1 từ 20 đến 24 tháng tù.

Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C3, chữ ký của cán bộ Công an phường P, chữ ký của đối tượng Phạm Gia T, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Hữu L1 cùng hình dấu tròn của công an phường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, qua xét hỏi, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 27/12/2023, tại khu vực trước số nhà A ngách D ngõ T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường Q bắt quả tang Phạm Gia T và Hoàng Thị C1 có hành vi cất giấu trái phép 0,185 gam ma túy loại Heroine, mục đích để cùng sử dụng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.

Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xét xử nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Các bị cáo đều đã nhiều lần bị xét xử về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo không lấy đó làm bài học cho mình, không tự rèn luyện bản thân để trở thành người có ích cho xã hội mà vẫn tiếp tục đi vào con đường phạm tội chứng tỏ các bị cáo rất coi thường pháp luật. Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ điều kiện cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Chung chưa chấp hành khoản nộp phạt sung công quỹ 19.800.000 đồng của Bản án số 1288/HSST ngày 18/10/1997, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chưa xóa án tích) nên phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét các bị cáo khai báo thành khẩn để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Đối với vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C3, chữ ký của cán bộ Công an phường P, chữ ký của đối tượng Phạm Gia T, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Hữu L1 cùng hình dấu tròn của công an phường.

Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố các bị cáo Phạm Gia T và Hoàng Thị C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  2. Xử phạt bị cáo Phạm Gia T 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

  3. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự
  4. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị C1 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2023.

3. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc C3, chữ ký của cán bộ Công an phường P, chữ ký của đối tượng Phạm Gia T, chữ ký của người chứng kiến Nguyễn Hữu L1 cùng hình dấu tròn của công an phường (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục THA dân sự quận Đ theo biên bản giao, nhận vật chứng số 160 ngày 10/4/2024.

Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Đ;
  • - VKSND thành phố H;
  • - TAND thành phố H;
  • - Công an quận Đ;
  • - Chi cục THADS Q. Đ;
  • - Lưu HS - VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị An.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHạm Gia T & Hoàng Thị C tàng trữ trái phép
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger