|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN Bản án số: 89/2024/DS-ST Ngày: 14-8-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Hải
Bà Nguyễn Thị Thuận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B.
Địa chỉ trụ sở: L, Số B đường T, phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Hồ Nam T, chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Bá T1; chức vụ: chuyên viên Phòng Thu hồi nợ Phía Nam; địa chỉ liên hệ: Số B N, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo văn bản ủy quyền số 13387/2024/UQ-LPBank.XLN ngày 17/5/2024). (có mặt).
Bị đơn:
1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 1988
Địa chỉ: Số A Quốc lộ A, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An.
Nơi ở hiện tại: Số E ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của bị đơn: ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1980; địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/7/2024). (có mặt)
2/ Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 29 tháng 5 năm 2024 và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B do ông Nguyễn Bá T1 đại diện trình bày:
Vào ngày 21/02/2023, Ngân hàng thương mại cổ phần B (Sau đây viết tắt là Ngân hàng TMCP B) và bà Nguyễn Thị Ngọc T2, ông Nguyễn Công T3 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số: HDTD810202388, cụ thể nội dung như sau: số tiền vay là 980.000.00đ; mục đích vay: hoàn vốn mua đất; lãi suất cho vay: 12,20%/năm, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm; thời hạn vay: 300 tháng kể từ ngày 22/02/2023 đến hết ngày 21/02/2048; phương thức trả nợ: kỳ hạn trả nợ gốc: gốc trả thành 300 kỳ (mỗi kỳ tương ứng 01 tháng), từ kỳ 01 đến kỳ 299, mỗi kỳ trả số tiền cố định là 3.267.000 đồng, kỳ cuối (kỳ 300) trả số tiền còn lại là 3.167.000 đồng, kỳ trả gốc trùng kỳ trả lãi, kỳ hạn trả lãi: lãi trả hàng tháng theo dư nợ thực tế, trả vào ngày 15 của kỳ trả lãi.
Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 đăng ký và được Ngân hàng TMCP B cấp thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ký ngày 19/10/2022, cụ thể như sau: loại thẻ: JCB STANDARD; hạn mức: 50.000.000 đồng; lãi suất: 28%/ năm; mục đích sử dụng: tiêu dùng; Điều khoản, điều kiện phát hành và sử dụng Thẻ tín dụng quốc tế được công bố trên website www.L1.com.vn của Ngân hàng TMCP B.
Để bảo đảm cho các khoản vay trên thì bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 đã ký với Ngân hàng TMCP B Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ở xã P, huyện C, tỉnh Long An. Diện tích thế chấp: 1406,5m²; Hình thức sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất trồng lúa; Thời hạn sử dụng: đến tháng 10/2033; Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Công T3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 699450, số vào sổ cấp GCN: CH 03196 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 15/11/2010 cho bà Nguyễn Thị N, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Công T3 ngày 09/02/2022, cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 21/02/2023, Ngân hàng TMCP B đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 theo Giấy đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số: [...]/01 ngày 21/02/2023 với số tiền là 980.000.000đ.
Đối với hạn mức thẻ tín dụng, ngày 03/11/2022, Ngân hàng TMCP B đã tiến hành bàn giao và kích hoạt thẻ tín dụng loại JCB STANDARD với số thẻ là 356587xxxxxx8723 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 sở hữu, sử dụng theo các thỏa thuận đã ký kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ gốc và lãi theo cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, Giấy đề nghị giải ngân kiêm giấy nhận nợ đã ký kết nên khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/8/2023.
Sau khi Ngân hàng TMCP B nộp đơn khởi kiện thì đến ngày 07/7/2024, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 đã trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ của thẻ tín dụng là 42.692.415 đồng.
Đến nay, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 còn nợ Ngân hàng TMCP B số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số HDTD810202388 ngày 21/02/2023 như sau: nợ gốc vay là 963.614.883đ (Chín trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 170.044.719đ (Một trăm bảy mươi triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm mười chín đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng).
Nay ông đại diện Ngân hàng TMCP B yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 liên đới trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền nợ là 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng), trong đó số tiền nợ vay gốc là 963.614.883đ (Chín trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 170.044.719đ (Một trăm bảy mươi triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm mười chín đồng), phương thức trả nợ là trả một lần. Yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng TMCP B theo mức lãi suất ghi trong hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị giải ngân kiêm giấy nhận nợ trên số tiền thực nợ kể từ ngày 15/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Đồng thời yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022 để đảm bảo thi hành án cho Ngân hàng TMCP B, cụ thể: khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi theo thỏa thuận nêu trên, thì Ngân hàng TMCP B được quyền yêu cầu phát mãi Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: xã P, huyện C, tỉnh Long An, diện tích: 1406,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 699450, số vào sổ cấp GCN: CH 03196 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 15/11/2010 cho bà Nguyễn Thị N, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Công T3 ngày 09/02/2022, cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp để đảm bảo thi hành án đối với số nợ trên cho Ngân hàng TMCP B.
Tại các lời khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Công T3 đồng thời là người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc T2 trình bày: ông thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về hợp đồng vay và thế chấp tài sản. Ngày 21/02/2023, ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 có ký kết Hợp đồng tín dụng số HDTD810202388 với Ngân hàng TMCP B, nội dung cụ thể đúng như lời trình bày của ông Nguyễn Bá T1 là người đại diện của Ngân hàng TMCP B trình bày. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 đã ký với Ngân hàng TMCP B Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ở xã P, huyện C, tỉnh Long An. Diện tích thế chấp: 1406,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 699450, số vào sổ cấp GCN: CH 03196 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 15/11/2010 cho bà Nguyễn Thị N, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho ông vào ngày 09/02/2022, cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất. Ngày 17/01/2024 ông đã thông báo cho Ngân hàng TMCP B về việc ông và bà T2 không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng TMCP B. Vào cùng ngày, Ngân hàng TMCP B có thông báo cho ông số nợ tính đến ngày 17/01/2024 là 1.040.964.834đ, trong đó nợ gốc là 963.614.883đ và nợ lãi tính đến ngày 17/01/2024 là 77.349.951đ.
Về thẻ tín dụng theo Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 19/10/2022: ông không đồng ý đối với lời trình bày của nguyên đơn về các nội dung liên quan đến việc cấp thẻ tín dụng cho ông và bà T2. Thực tế ông và bà T2 không được cấp thẻ tín dụng nào từ Ngân hàng TMCP B.
Nay ông xác định ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 chỉ còn nợ và đồng ý liên đới trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền 1.040.964.834đ (Một tỷ không trăm bốn mươi triệu chín trăm sáu mươi bốn nghìn tám trăm ba mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc là 963.614.883đ (Chín trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và nợ lãi tính đến ngày 17/01/2024 là 77.349.951đ (Bảy mươi bảy triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm năm mươi mốt đồng). Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 không đồng ý tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng TMCP B do vào ngày 17/01/2024 ông đã báo Ngân hàng TMCP B về việc không có khả năng trả nợ và Ngân hàng TMCP B đã chốt só nợ cho ông và bà T2 như trên. Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 không đồng ý tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022 để đảm bảo thi hành án cho Ngân hàng TMCP B do Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022 đã chấm dứt từ ngày 17/01/2024 là ngày ông thông báo với Ngân hàng thương mại cổ phần B về việc không có khả năng trả nợ tiếp cho Ngân hàng TMCP B. Về tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022 là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: xã P, huyện C, tỉnh Long An: ông yêu cầu Ngân hàng TMCP B thanh lý tài sản thế chấp này để thu hồi nợ. Đồng thời, khi Ngân hàng TMCP B thực hiện việc thanh lý tài sản phải được sự đồng ý của ông và bà T2 về giá thanh lý tài sản.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát cho rằng:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng TMCP B với bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 có chữ ký bà T2 và ông T3 và bảng tóm tắt sao kê dư nợ, xác định bà T2 và ông T3 có vay Ngân hàng TMCP B tổng số tiền là 980.000.000 đồng.
Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: xã P, huyện C, tỉnh Long An, diện tích: 1406,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 699450, số vào sổ cấp GCN: CH 03196 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 15/11/2010 cho bà Nguyễn Thị N, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Công T3 ngày 09/02/2022, cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất.
Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bà T2 và ông T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng TMCP B đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà T2 và ông T3 trả nợ, nhưng bà T2 và ông T3 vẫn không thực hiện.
Dư nợ của bà T2 và ông T3 theo Hợp đồng tín dụng số: HDTD810202388 tạm tính đến ngày 14/8/2024 như sau: nợ vay gốc là 963.614.883đ (Chín trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm tám mươi ba đồng), tiền lãi tính đến ngày 14/8/2024 là 170.044.719đ (Một trăm bảy mươi triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm mười chín đồng), tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng)
Do ông T3 và bà T2 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu buộc bà T2 và ông T3 phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền tạm tính đến ngày đến ngày 14/8/2024 là 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng), yêu cầu bà T2 và ông T3 tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh sau ngày 14/8/2024 và tiếp tục thực hiện Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022. Vì vậy, căn cứ vào Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B.
Trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Bá T1 đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP B rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông T3, bà T2 trả số tiền của thẻ tín dụng là 42.692.415 đồng. Đây là sự tự nguyện của người đại diện nguyên đơn, căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với phần yêu cầu mà Ngân hàng TMCP B đã rút.
Bà T2 và ông T3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và toàn bộ chi phí tố tụng khác theo quy định, hoàn tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Ngân hàng B có đơn khởi kiện tranh chấp đối với ông Nguyễn Công T3 và bà Nguyễn Thị Ngọc T2 về yêu cầu trả số nợ vay trong hợp đồng vay tài sản. Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Tân An thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 203, Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ vay: Theo Hợp đồng tín dụng số HDTD810202388 ngày 21/02/2023 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: vào ngày 21 tháng 02 năm 2023, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 có vay Ngân hàng TMCP B tổng số tiền vay là 980.000.000đ; mục đích vay: hoàn vốn mua đất; lãi suất cho vay: 12,20%/năm, lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất nợ lãi chậm trả do hai bên thỏa thuận bằng 10%/năm; thời hạn vay: 300 tháng kể từ ngày 22/02/2023 đến hết ngày 21/02/2048; phương thức trả nợ: kỳ hạn trả nợ gốc: gốc trả thành 300 kỳ (mỗi kỳ tương ứng 01 tháng), từ kỳ 01 đến kỳ 299, mỗi kỳ trả số tiền cố định là 3.267.000 đồng, kỳ cuối (kỳ 300) trả số tiền còn lại là 3.167.000 đồng, kỳ trả gốc trùng kỳ trả lãi, kỳ hạn trả lãi: lãi trả hàng tháng theo dư nợ thực tế, trả vào ngày 15 của kỳ trả lãi. Ngày 21/02/2023, Ngân hàng TMCP B đã giải ngân đầy đủ số tiền vay 980.000.000đ cho bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà T2 và ông T3 đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết, nên các khoản vay trên đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 15/3/2023. Đến nay bà T2 và ông T3 còn nợ Ngân hàng TMCP B số tiền 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng), trong đó nợ gốc là 963.614.883đ (Chín trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 170.044.719đ (Một trăm bảy mươi triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm mười chín đồng).
Ông T3 cho rằng ngày 17/01/2024 ông và bà T2 đã thông báo cho Ngân hàng TMCP B việc ông và bà T2 không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng TMCP B và Ngân hàng TMCP B có thông báo cho ông số nợ tính đến ngày 17/01/2024 là 1.040.964.834đ, trong đó nợ gốc là 963.614.883đ và nợ lãi tính đến ngày 17/01/2024 là 77.349.951đ nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh giữa ông, bà T2 và Ngân hàng TMCP B đã thoả thuận chốt nợ vào ngày 17/01/2024 với số tiền nêu trên và ông và bà T2 sẽ không phải trả thêm khoản lãi phát sinh từ sau ngày 17/01/2024.
Do bà T2 và ông T3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay tài sản nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B là có căn cứ, buộc bà T2 và ông T3 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP B tổng số tiền 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng), trong đó nợ gốc là 963.614.883đ (Chín trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 14/8/2024 là 170.044.719đ (Một trăm bảy mươi triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm mười chín đồng) theo quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về phương thức thanh toán: Ngân hàng TMCP B yêu cầu ông T3 và bà T2 liên đới thanh toán số tiền nợ một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy: bà T2 và ông T3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nếu kéo dài thời gian thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP B được pháp luật bảo vệ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng TMCP B, Hội đồng xét xử xét chấp nhận theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP B, buộc bà T2 và ông T3 có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng) cho Ngân hàng TMCP B một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật là phù hợp.
[2.3] Về tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số HDTD810202388 ngày 21/02/2023, bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 đã ký với Ngân hàng TMCP B Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022. Nội dung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 thể hiện nghĩa vụ được bảo đảm có bao gồm các Hợp đồng cấp tín dụng được ký giữa ông T3, bà T2 và Ngân hàng TMCP B được xác lập từ thời điểm ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 đến ngày 17/02/2027. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11, tọa lạc ở xã P, huyện C, tỉnh Long An. Diện tích thế chấp: 1406,5m²; Hình thức sử dụng riêng; Mục đích sử dụng: Đất trồng lúa; Thời hạn sử dụng: đến tháng 10/2033; Nguồn gốc sử dụng: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất như Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Chủ sử dụng đất là ông Nguyễn Công T3 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 699450, số vào sổ cấp GCN: CH 03196 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 15/11/2010 cho bà Nguyễn Thị N, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Công T3 ngày 09/02/2022, cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất.
Hợp đồng thế chấp bất động sản được Văn phòng C vào ngày 17/02/2022 và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C, tỉnh Long An vào ngày 17/02/2022, đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật nên hợp pháp.
Do đó, yêu cầu của Ngân hàng TMCP B về việc yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp để đảm bảo cho Ngân hàng TMCP B thu hồi nợ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận.
[2.4] Trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Bá T1 đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP B rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu ông T3, bà T2 trả số tiền của thẻ tín dụng là 42.692.41đ. Đây là sự tự nguyện của người đại diện nguyên đơn, căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với phần yêu cầu mà Ngân hàng TMCP B đã rút.
[3] Phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp tài sản là có căn cứ.
[4] Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 có nghĩa vụ chịu 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Ngân hàng TMCP B đã nộp tạm ứng số tiền trên. Do đó, bà T2 và ông T3 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP B số tiền 6.000.000đ.
[5] Về án phí: bà T2 và ông T3 có nghĩa vụ chịu 46.009.788đ (Bốn mươi sáu triệu không trăm lẻ chín nghìn bảy trăm tám mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ngân hàng TMCP B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu khởi kiện được chấp nhận. Hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP B.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 470 và Điều 299, Điều 317, Điều 318 và Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 8, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3.
- Về số nợ vay: Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số nợ gốc vay là 963.614.883đ (Chín trăm sáu mươi ba triệu sáu trăm mười bốn nghìn tám trăm tám mươi ba đồng) và tiền lãi tính đến ngày 14/8/2024 là 170.044.719đ (Một trăm bảy mươi triệu không trăm bốn mươi bốn nghìn bảy trăm mười chín đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.133.659.602đ (Một tỷ một trăm ba mươi ba triệu sáu trăm năm mươi chín nghìn sáu trăm lẻ hai đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi, thì Q sử dụng đất tại thửa đất số 168, tờ bản đồ số 11, địa chỉ: xã P, huyện C, tỉnh Long An, diện tích: 1406,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 699450, số vào sổ cấp GCN: CH 03196 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp ngày 15/11/2010 cho bà Nguyễn Thị N, cập nhật biến động về chủ sử dụng đất cho ông Nguyễn Công T3 ngày 09/02/2022, cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số HDTC810202227 ngày 17/02/2022 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần B với bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 được phát mãi để đảm bảo thi hành án đối với số nợ trên cho Ngân hàng thương mại cổ phần B.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần B về việc yêu cầu ông T3, bà T2 trả số tiền nợ của thẻ tín dụng là 42.692.415đ (Bốn mươi hai triệu sáu trăm chín mươi hai nghìn bốn trăm mười lăm đồng).
- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày 14/8/2024 bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về chi phí tố tụng: bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 phải chịu 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Ngân hàng thương mại cổ phần B đã nộp tạm ứng số tiền trên nên bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền 6.000.000đ (Sáu triệu đồng).
- Về án phí: bà Nguyễn Thị Ngọc T2 và ông Nguyễn Công T3 có nghĩa vụ chịu 46.009.788đ (Bốn mươi sáu triệu không trăm lẻ chín nghìn bảy trăm tám mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 22.909.536đ (Hai mươi hai triệu chín trăm lẻ chín nghìn năm trăm ba mươi sáu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001775 ngày 10/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 89/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 89/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Bưu điện Liên Việt "tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Thị Ngọc Thảo, Tuấn
