Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-8-2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Út Mẫn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Hồng Xứng

Bà Trần Thị Ngọc Trân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trang Minh Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 88/2023/HNGĐST ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1985

Địa chỉ: Ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang

- Bị đơn: Ông LEE WEN-HSIUNG, sinh năm 1969

Địa chỉ: Số A Lô Đ, khóm I, phường K, khu T, thành phố Đ, Đài Loan.

(Bà L và ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 28/8/2023 và bản tự khai ngày 06/01/2023 bà Huỳnh Thị L trình bày: Vào năm 2019, bà và ông L1, WEN-HSIUNG quen biết qua mai mối, sau khi tìm hiểu có nảy sinh tình cảm, có tổ chức lễ cưới theo truyền thống Việt Nam và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang vào ngày 12/12/2019. Sau khi cưới với chồng bà chung sống với nhau tại Việt Nam được 01 tuần thì ông LEE, WEN-HSIUNG trở về Đài Loan làm việc và làm thủ tục bảo lãnh bà L qua Đài Loan đoàn tụ, bà L ở lại Việt Nam chờ ngày phỏng vấn. Khi đến ngày phỏng vấn thì do dịch bệnh Covid-19 nên ông L1, WEN-HSIUNG không về Việt Nam phòng vấn cùng bà, bà phỏng vấn hai lần đều bị rớt, 06 tháng sau ông L1, WEN-HSIUNG về Việt Nam cùng bà L phỏng vấn nhưng vẫn không đậu, ông L1, WEN-HSIUNG về Đài Loan. Từ đó vợ chồng bà L bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do khoảng cách địa lý xa mỗi người sống một nơi nên không còn sự quan tâm, khác biệt về ngôn ngữ nên không có cơ hội hàn gắn, qua nhiều lần phỏng vấn không thành nên ông L1, WEN-HSIUNG không còn ý định bảo lãnh bà L sang Đài Loan đoàn tụ.

Nay bà nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng, hôn nhân giữa bà và ông L1, WEN-HSIUNG không thể duy trì nên bà yêu cầu ly hôn với ông L1, WEN-HSIUNG.

Về con chung; tài sản chung; nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông LEE, WEN-HSIUNG vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị L theo thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Huỳnh Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông LEE, WEN-HSIUNG vắng mặt trong quá trình tiến hành tố tụng. Do vậy căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2]. Về nội dung: Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị L và ông L1, WEN-HSIUNG là hôn nhân tự nguyện; ông, bà đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Hậu Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 122, ngày 12/12/2019. Do vậy Hội đồng xét xử nhận định hôn nhân của bà Huỳnh Thị L và ông L1, WEN-HSIUNG là hợp pháp.

Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Huỳnh Thị L và ông L1, WEN-HSIUNG do vợ chồng bất đồng về ngôn ngữ nên không hiểu nhau, do vợ chồng không gần gũi sống cùng nhau nên không có cơ hội hàn gắn, nhiều lần phỏng vấn không thành nên ông L1, WEN-HSIUNG không còn ý định bảo lãnh bà L sang Đài Loan đoàn tụ. Bà L xác định hiện tại bà không còn tình cảm với ông L1, WEN-HSIUNG nên bà yêu cầu được ly hôn. Xét thấy hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị L và ông L1, WEN-HSIUNG đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Huỳnh Thị L đối với ông L1, WEN-HSIUNG. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, bà Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ tạm ứng án phí bà L đã nộp.

[4]. Về chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Áp dụng khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC; Bà Huỳnh Thị L phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0099506 ngày 06/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị L được ly hôn với ông L1, WEN-HSIUNG.
  2. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị L xác định không có con chung, tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
  3. Án phí: Bà Huỳnh Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai 0003872 ngày 20/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  4. Chi phí thực hiện ủy thác tư pháp: Bà Huỳnh Thị L phải chịu phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng, đã nộp theo biên lai thu số 0099506 ngày 06/12/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Thị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được Tòa án niêm yết. Riêng ông L1, WEN-HSIUNG có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận :

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - THA dân sự tỉnh Kiên Giang;
  • - UBND tp Vị Thanh, tỉnh HG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Út Mẫn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn loan - hsiung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger