|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89 /2024/HS-ST Ngày: 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Lước;
Ông Đồng Thanh Bình.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Nguyễn Dĩ K, sinh năm 2004 tại An Giang; Địa chỉ thường trú: Ấp G, xã T, thị xã T, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Ô 38 DC 23, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1981.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 27/7/2024 cho đến nay, có mặt
2. Lâm Quốc T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2006 tại An Giang; Địa chỉ thường trú: Ấp S, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Ngọc T1, sinh năm 1984 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1984.
Tiền án: Không. Tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 27/7/2024 cho đến nay, có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Văn K1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt.
Ông Nguyễn Minh Q, sinh năm 2004; Địa chỉ: Thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T là bạn bè, quen biết nhau do từng làm chung công ty tại thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 20 giờ 00 phút, ngày 26/7/2024, khi K đang ở phòng trọ thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì nảy sinh ý định cướp tài sản của người khác. Lúc này, K sử dụng tài khoản Facebook tên “Nguyễn K2” nhắn tin với T qua tài khoản Facebook tên “Quốc Trung” để bàn bạc, thống nhất đi cướp tài sản. Khan và T cùng thống nhất là sẽ đến địa bàn “Làng Đ", Thành phố Hồ Chí Minh để tìm những người có vàng, tiền để cướp.
Sau khi thống nhất việc đi cướp tài sản với Khan xong thì T nhắn tin cho Nguyễn Minh Q, nơi ở hiện tại: Khu phố E, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương qua tài khoản Facebook tên “Nguyễn Chí T2” hỏi có cái súng nào không, nhằm mượn súng để làm công cụ cướp tài sản. Khi Q nhận được tin nhắn của T hỏi mượn súng thì Q trả lời là “có” rồi gửi “vị trí” cho T qua ứng dụng nhắn tin Facebook để T đến.
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/7/2024, K điều khiển xe mô tô biển số 67H1 – 706.62 đến chỗ ở của T để chở T đi cướp tài sản. Khi gặp nhau thì T nói K chở T đi đến thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương để gặp Q bạn của T để mượn súng làm công cụ thực hiện hành vi cướp tài sản thì K đồng ý. Khan sử dụng xe mô tô biển số 67H1 – 706.62 chở T đi thị trấn T. Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/7/2024 khi K và T đến thị trấn T thì bị lực lượng tuần tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương kiểm tra hành chính. Qua làm việc và kiểm tra điện thoại, lực lượng Công an huyện B phát hiện Khan và T đang chuẩn bị thực hiện hành vi cướp tài sản nên đưa về trụ sở Công an thị trấn T để làm rõ. Làm việc với Cơ quan Công an, Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đồ vật, tài sản tạm giữ:
- - 01 điện thoại Oppo A9, màu xanh đen của bị can Nguyễn Dĩ K.
- - 01 điện thoại di dộng IPHONE 8 PLUS màu trắng hồng của Lâm Quốc T.
- - 01 điện thoại di dộng Vs MART màu xanh đen của Nguyễn Minh Q.
- - 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 67H1-706.62, màu xanh đen.
Đối với 01 điện thoại hiệu Oppo A9, màu xanh đen, số thuê bao 1: 0981.585.200; số thuê bao 2: 0934.099.264 của Nguyễn Dĩ K. Khan sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu IPHONE 8 PLUS màu trắng hồng, số thuê bao: 0375.669.858 của Lâm Quốc T. T sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Vs MART màu xanh đen, số thuê bao 1: 0961.967.943, số thuê bao 2: 0862.842.960 của Nguyễn Minh Q. Q sử dụng điện thoại này để liên lạc với T. Tuy nhiên, Q không biết T đang liên lạc với Q để chuẩn bị dụng cụ đi cướp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
Đối với 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 67H1-706.62, màu xanh đen là của ông Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1970, thường trú: xã T, huyện T, An Giang) là cha ruột của Nguyễn Dĩ K. Ông K1 không biết K sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
2
Đối với Nguyễn Minh Q, khi thấy T nhắn tin hỏi “có cây súng nào không” thì Q nghĩ T đang nói đùa với mình nên Q cũng trả lời đùa lại với T là “có”, rồi Q gửi vị trí định vị cho T. Mục đích của Q là kêu T lên chỗ Q đang ở để chơi và nhậu với Q. Q không biết gì về việc K và T bàn bạc với nhau đi cướp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành khám xét chỗ ở của Q nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật nào liên quan đến vụ án. Do đó, không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Minh Q.
Cáo trạng số: 104/CT-VKS - BTU ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố các bị cáo Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 5 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố của Cáo trạng, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo K có ông nội Nguyễn Văn L có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo không có.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Nguyễn Dĩ K từ 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H) năm tù.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo: Lâm Quốc T từ 01 (Một) năm đến 01 (Năm) 06 (Sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước
Đối với 01 điện thoại hiệu Oppo A9, màu xanh đen, số thuê bao 1: 0981.585.200; màu xanh đen, số IMEI 1: 86245048746692; số IMEI 2: 862435048746684; (A 3), được niêm phong trong 01 bì thư. Do bị cáo K sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội .
Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu IPHONE 8 PLUS màu trắng hồng, số IMEI: 356716083753989; (A 2), được niêm phong trong 01 bì thư. T sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho Nguyễn Minh Q 01 điện thoại di dộng hiệu Vs MART màu xanh đen, số IMEI 1: 351088466448370, số IMEI 2: 351088466448388; (A 1), được niêm phong trong 01 bì thư. Q sử dụng điện thoại này để liên lạc với T. Tuy nhiên, Q không biết T đang liên lạc với Q để chuẩn bị dụng cụ để thực hiện hành vi cướp tài sản.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn K1 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 67H1-706.62, màu xanh đen; số khung: RLCUG 1010KY236186; số máy: G3D4E07223. Ông K1 không biết K sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T thống nhất Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 5 Điều 168 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, lời nói sau cùng của các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Minh Q vắng mặt đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của ông Q không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử văng mặt ông Q.
[2] Về nội dung vụ án:
Ngày 26/7/2024, tại thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T đang tìm kiếm công cụ để thực hiện tội Cướp tài sản thì bị lực lượng Công an huyện B phát hiện, bắt giữ.
Như vậy, Cáo trạng số: 104/CT-VKS-BTU ngày 21/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố các bị cáo Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 5 Điều 168 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chuẩn bị phạm tội cướp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn hưởng thụ tài sản của người khác mà cố ý thực hiện hành vi trái pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội và đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo K có ông nội Nguyễn Văn L có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất đồng phạm của các bị cáo: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo K là người khởi xướng, bị cáo K và T đều là người thực hành chuẩn bị phạm tội tích cực.
4
Xét thấy, mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về việc xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước
Đối với 01 điện thoại hiệu Oppo A9, màu xanh đen, số thuê bao 1: 0981.585.200; màu xanh đen, số IMEI 1: 86245048746692; số IMEI 2: 862435048746684; (A 3), được niêm phong trong 01 bì thư. Do bị cáo K sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội .
Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu IPHONE 8 PLUS màu trắng hồng, số IMEI: 356716083753989; (A 2), được niêm phong trong 01 bì thư. T sử dụng điện thoại này để thực hiện hành vi phạm tội.
Trả lại cho Nguyễn Minh Q 01 điện thoại di dộng hiệu Vs MART màu xanh đen, số IMEI 1: 351088466448370, số IMEI 2: 351088466448388; (A 1), được niêm phong trong 01 bì thư. Q sử dụng điện thoại này để liên lạc với T. Tuy nhiên, Q không biết T đang liên lạc với Q để chuẩn bị dụng cụ để thực hiện hành vi cướp tài sản.
Trả lại cho ông Nguyễn Văn K1 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 67H1-706.62, màu xanh đen; số khung: RLCUG 1010KY236186; số máy: G3D4E07223. Ông K1 không biết K sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội.
[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T phạm tội “Cướp tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 5 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Dĩ K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 27/7/2024.
2.2. Áp dụng khoản 5 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;
- - Xử phạt bị cáo Lâm Quốc T 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 27/7/2024.
3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm a, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại hiệu Oppo A9, màu xanh đen, số thuê bao 1: 0981.585.200; màu xanh đen, số IMEI 1: 86245048746692; số IMEI 2: 862435048746684; (A 3), được niêm phong trong 01 bì thư, của bị cáo Nguyễn Dĩ K;
- + 01 điện thoại di dộng hiệu IPHONE 8 PLUS màu trắng hồng, số IMEI: 356716083753989; (A 2), được niêm phong trong 01 bì thư, của bị cáo Lâm Quốc T.
- - Trả lại cho Nguyễn Minh Q 01 điện thoại di dộng hiệu Vs MART màu xanh đen, số IMEI 1: 351088466448370, số IMEI 2: 351088466448388; (A 1), được niêm phong trong 01 bì thư.
5
Trả lại cho ông Nguyễn Văn K1 01 xe mô tô Yamaha Exciter, biển số 67H1-706.62, màu xanh đen; số khung: RLCUG 1010KY236186; số máy: G3D4E07223.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc:
- - Bị cáo các bị cáo Nguyễn Dĩ K và Lâm Quốc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đền vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Tiến Lợi |
6
7
8
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội cướp tài sản
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản - Nguyễn Dĩ K
