|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày: 12-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Phú Sang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Thà;
- Ông Trần Hữu Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Trúc Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh năm 2004 tại Campuchia; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lâm Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 03/7/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn M là người nghiện ma túy. Để có ma túy sử dụng nên vào khoảng 12 giờ ngày 24/6/2024, M điện thoại cho người Campuchia tên Bòn T, không rõ nhân thân, lai lịch để mua 01 bịch ma túy, với số tiền 1.000.000 đồng, nhằm mục đích sử dụng. Bòn T đồng ý bán ma túy cho M và nói với M bỏ tiền vào chai nước suối mang đến đặt tại gốc cây tràm ở khu vực bãi rác, thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh để Bòn Tha mang ma túy đến giao và nhận tiền. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, M đến nơi hẹn nhận ma túy và mang về nhà mình tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cất giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, M chiết một phần ma túy mang đến nơi vắng người qua lại thuộc khu vực Căn cứ Trung ương cục M1 sử dụng một mình. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/6/2024, M tiếp tục chiết một phần ma túy mang đến khu vực vắng để sử dụng, khi M đi đến khu vực rẫy mía, thuộc tổ I, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an xã T và Đồn Biên phòng cửa khẩu C1 phát hiện bắt quả tang M đang cất giấu trên người 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, ký hiệu M1. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của M thu giữ 01 bịch nilon hàn kín bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, ký hiệu M2.
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn M đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Kết quả trưng cầu giám định ma túy: Tại Kết luận giám định số 1288/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 đoạn ống nhựa hàn kín (được niêm phong, ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1491 gam (còn lại sau giám định là 0,1235 gam).
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nilon hàn kín (được niêm phong, ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2368 gam (còn lại sau giám định là 0,2022 gam).
* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản Nguyễn Văn M không có tài sản riêng có giá trị nên không kê biên.
Bản cáo trạng số 77/CT-VKSTC ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
* Về biện pháp tư pháp:
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng thu giữ theo quy định Pháp luật.
Lời nói sau cùng: Bị cáo Nguyễn Văn M xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo thể hiện như sau:
Vào lúc 14 giờ 45 phút ngày 25/6/2024, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đồn Biên phòng cửa khẩu C1 và Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Nguyễn Văn M đang tàng trữ 01 túi nilon, bên trong chứa tinh thể màu trắng, qua giám định kết luận là ma túy, loại Methamphetamin với trọng lượng 0,3859 gam nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy nên cần phải có mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đồng thời mới có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa chung.
[4] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết các giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về biện pháp tư pháp:
* Về xử lý vật chứng:
- Đối với vật chứng thu giữ là 01 bì thư niêm phong, bên trong chứa tiền Việt Nam 260.000 đồng. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự hoàn trả cho bị cáo.
- Đối với vật chứng thu giữ là 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1288/M1, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T1, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 0,1235 gam chất ma tuý còn lại sau giám định, kèm theo kết luận giám định số 1228/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bản sao y). Đây là vật cấm sử dụng và cấm lưu hành nên căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy;
- Đối với vật chứng thu giữ là 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1288/M2, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T1, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 0,2022 gam chất ma tuý còn lại sau giám định. Đây là vật cấm sử dụng và cấm lưu hành nên căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy;
- Đối với vật chứng thu giữ là 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng Gold, số seri:VNXP29M165, số máy MLEF3LL/A đã qua sử dụng. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn M, không liên quan đến vụ án nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M.
- Đối với vật chứng thu giữ là 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh, đen, bạc, biển số 93F1-69323, số máy: G3MSE221314, số khung: RLCUG1210NY108747 đã qua sử dụng. Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn M, không liên quan đến vụ án nên căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M.
- Đối với các vật chứng thu giữ gồm: 03 hột quẹt ga đã qua sử dụng; 03 đoạn ống thuỷ tinh chưa qua sử dụng; 08 đoạn ống nhựa đã qua sử dụng; 01 đoạn ống thuỷ tinh đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã qua sử dụng; 03 bịch nilon đã qua sử dụng; 01 hộp bên ngoài có bọc vải bố màu nâu xám dùng để đựng ma tuý đá và dụng cụ sử dụng ma tuý đá, đã qua sử dụng; một cây kéo bằng kim loại, màu bạc đã qua sử dụng; 01 dao lam màu bạc đã qua sử dụng và 01 áo khoác nam, màu nâu đã qua sử dụng. Đây là công cụ bị cáo sử dụng ma tuý, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy;
Vật chứng đang được tạm giữ tại Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận ngày 30/9/2024.
[7] Bản cáo trạng số: 77/CT-VKSTB, ngày 25-9-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố đối với bị cáo và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[8] Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 25/6/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1288/M1, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T1, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 0,1235 gam chất ma tuý còn lại sau giám định, kèm theo kết luận giám định số 1228/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bản sao y).
- 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1288/M2, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T1, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đ và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có chứa 0,2022 gam chất ma tuý còn lại sau giám định.
- 03 hột quẹt ga đã qua sử dụng; 03 đoạn ống thuỷ tinh chưa qua sử dụng; 08 đoạn ống nhựa đã qua sử dụng; 01 đoạn ống thuỷ tinh đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã qua sử dụng; 03 bịch nylon đã qua sử dụng; 01 hộp bên ngoài có bọc vải bố màu nâu xám dùng để đựng ma tuý đá và dụng cụ sử dụng ma tuý đá, đã qua sử dụng; một cây kéo bằng kim loại, màu bạc đã qua sử dụng; 01 dao lam màu bạc đã qua sử dụng và 01 áo khoác nam, màu nâu đã qua sử dụng.
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Văn M các tài sản gồm:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh, đen, bạc, biển số 93F1-69323, số máy: G3MSE221314, số khung: RLCUG1210NY108747 đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, màu vàng Gold, số seri:VNXP29M165, số máy MLEF3LL/A đã qua sử dụng.
- 01 bì thư niêm phong, bên trong chứa tiền Việt Nam 260.000 đồng, kèm theo kết luận giám định số 1356/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bản sao y) tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Vật chứng đang được tạm giữ tại Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận ngày 30/9/2024.
Nhưng tiếp tục tạm giữ các tài sản trên tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên để đảm bảo cho việc bị cáo Nguyễn Văn M thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2, khoản 1, Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1, khoản 1, Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Phú Sang |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M
