Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 12 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

- Ông Trần Đình Khoa

Thư ký phiên toà : Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa

- Đại diện VKS ND thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị N – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 85/2024/HSST ngày 24/6/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HS ngày 27/6/2024, đối với các bị cáo:

1. HÀ THỊ THU T3, sinh năm 1986, tại Tp Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; HKTT và chỗ ở: Tổ A, ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: Hà Văn M (không rõ năm sinh); Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Đ (không rõ năm sinh); Họ tên chồng: Trần Thanh Đ1, sinh năm 1982; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 21/4/2023, đến ngày 24/4/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.

2. LÊ MINH T4; sinh năm 1986, tại Bà Rịa - Vũng Tàu; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Thợ may; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: Lê Văn M1, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Đặng Thị Đ2, sinh năm 1954; Họ tên vợ: Trịnh Thị L, sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt ngày 21/4/2023, đến ngày 24/4/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.

2

3. HỒ VĂN T5, sinh năm 1990, Nơi sinh: Bà Rịa – Vũng Tàu; Giới tính: Nam; HKTT và chỗ ở: Ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên cha: Hồ Văn Đ3 (đã chết); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965; Họ tên vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1986; Bị cáo có 01 con, sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/4/2023 đến nay.

(Tất cả các bị cáo đều có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ 7, ấp Bắc 3, xã Hòa Long, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

  2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1978 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ G, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

  3. Ông Bùi Đức T2, sinh năm 1962 (vắng mặt)

    Địa chỉ: E đường R, phường K, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

  4. Ông Trần Hùng S, sinh năm 1986 (vắng mặt)

    Địa chỉ: 3 đường L, khu phố F, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

  5. Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1980 (vắng mặt)

    Địa chỉ: Tổ C, khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1/ Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 21/4/2023, Công an thành phố B phối hợp với Công an xã H, thành phố B tiến hành kiểm tra quán cà phê của Hà Thị Thu T3, bắt quả tang T3 đang sử dụng điện thoại nhận tin nhắn có nội dung ghi số đề của một người tên “Tuan D” số điện thoại 0765.404.xxx. Tang vật tạm giữ gồm: 01 (một) điện thoại Galaxy A20s màu đen, imei: 3549.9811.2376.402, sử dụng sim số thuê bao: 0785.244.542, imei sim: 8401.2108.3372.8738; số tiền 3.000.000 đồng.

- Tại cơ quan điều tra, Hà Thị Thu T3 khai nhận: Trong quá trình kinh doanh quán cà phê kinh doanh vắng khách, nhận thấy có nhiều người có nhu cầu ghi số đề nên từ đầu năm 2023, T3 bắt đầu nhận ghi số đề tại quán cà phê. Thời gian đầu, T3 trực tiếp ghi và thắng thua với người chơi. Đến khoảng đầu tháng 4 năm 2023, thấy T2 thường xuyên đến quán chơi và

3

ghi số đề nên T3 thỏa thuận với T2 nếu có người ghi số đề thì T2 cứ nhận rồi chuyển cho T3, T3 sẽ chi hoa hồng cho T2. Theo đó, nếu cứ ghi được 1.000.000 đồng tiền số đề thì T3 sẽ chỉ cho T2 80.000 đồng tiền hoa hồng. Hằng ngày, T2 ghi số đề rồi nhắn tin chuyển số đề đến số điện thoại 0785.244.xxx của T3. Đến sáng hôm sau, T2 sẽ đến quán cà phê gặp T3 để tính thắng thua và lấy tiền chi trả cho người chơi (nếu họ trúng đề). Ngoài nhận tin nhắn chuyển số đề từ T2, T3 còn nhận tin nhắn chuyển số đề từ Nguyễn Thị T1 và T3 chi hoa hồng là 80.000 đồng/1.000.000 đồng cho T1.

Trần Hùng S là bạn của chồng T3 thường đến nhà T3 chơi nên biết T3 có ghi số đề. S nói T3 chia cho S để S chơi cùng thì T3 đồng ý. S thỏa thuận với T3 mỗi ngày chỉ nhận tiền ghi đề dao động dưới 4.000.000 đồng. Hằng ngày, sau khi ghi số đề của người chơi và nhận chuyển số đề của người khác, T3 lựa chọn giữ lại một phần để tự thắng thua với người chơi, số còn lại T3 nhắn tin chuyển số đề đến số điện thoại 0906.385.xxx của S. Để xác nhận đã nhận số đề từ T3, S sẽ nhắn tin “ok”, hoặc đến quán của T3 để nhận nhưng cũng có ngày S không phản hồi nhưng vẫn nhận. Sau khi tính tiền thắng thua, T3 đã xóa các tin nhắn chuyển số đề cho S nên không xác định được S đã nhận những số nào, số tiền bao nhiêu. Ngày 21/4/2023, T3 có chuyển tin nhắn ghi đề cho S nhưng không thấy S phản hồi.

- Tại cơ quan điều tra, Lê Minh T4 khai nhận: T4 thường đến quán của T3 uống nước và nhiều lần mua số đề của T3. Sau đó, T3 thỏa thuận nếu có người ghi số đề thì T4 nhận rồi chuyển lại cho T3 làm thầu đề, T3 sẽ chi hoa hồng cho T4 theo tỷ lệ cứ 1.000.000 đồng tiền ghi đề thì T4 sẽ được hưởng 80.000 đồng tiền hoa hồng. Vào ngày 21/4/2023, T4 nhận ghi số đề của Hồ Văn T5 và hai người đàn ông (không rõ lai lịch) với hình thức bao lô 02 số và 03 số, tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 14 nhưng T4 chỉ nhận của người chơi 13,5 vì tính theo tiền hoa hồng thì T4 vẫn được lời 2.023.840 đồng.

- Tại cơ quan điều tra, Hồ Văn T5 khai nhận: Sáng ngày 22/4/2023, T5 đem số tiền đánh đề của ngày 21/4/2023 là 40.500.000 đồng (3 lô số x 3 đài x 1.000.000 đồng x 13,5) đến đưa cho T4 thì nghe tin T4 đã bị bắt nên T5 đến cơ quan Công an đầu thú, giao nộp số tiền trên. T5 thừa nhận nhắn tin ghi số đề với T4. T5 không biết việc T4 ghi số đề với ai khác.

Hình thức ghi lô đề và cách thức tính thắng thua bằng tiền, cụ thể như sau:

Đối với các đài miền N và miền T (các Công ty xổ số kiến thiết khu vực miền N, miền T): Hình thức đánh bao lô 02 số và 03 số, tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 14 (T4 nhận của T5 thì tỷ lệ x13,5), khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 18 giải đối với bao lô hai số; 17 giải đối với bao lô ba số; tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 13, tính thắng thua so với kết quả 16 giải, tỷ lệ ăn thua là 1:70.

4

Hình thức đánh đầu đuôi: Tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 0.8, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của giải đặc biệt và giải tám, tỷ lệ ăn thua là 1:70.

Hình thức đánh xiên: số tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 28; khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 36 giải của 2 đài; tỷ lệ ăn thua là 1: 600.

Hình thức đánh đá, cách tính tương tự xiên, khi tính thắng thua sẽ so sánh với kết quả xổ số của 18 giải của đài đánh, nếu nhiều đài thì so với 18 giải của tất cả các đài, tỷ lệ ăn thua là 1: 600. Hình thức đánh xỉu chủ: tiền thực nhận của người mua đề = tiền đánh x 2, tỷ lệ ăn thua là 1:600, khi tính thắng thua sẽ so sánh kết quả với giải bảy và giải đặc biệt.

Căn cứ kết quả kiểm tra tin nhắn ghi số đề, kết quả mở thưởng xổ số các đài, xác định số tiền đánh bạc cụ thể như sau:

- Đối với Hà Thị Thu T3:

  • + Ngày 21/4/2023, T3 nhận các số đề do Nguyễn Minh T6 và Nguyễn Thị T1 chuyển lại theo thỏa thuận từ trước và nhận ghi số đề của Nguyễn Thị T1. Tổng số tiền đánh bạc trong ngày 21/4/2023 là 59.325.000 đồng; trong đó, số tiền của T6 chuyển là 56.625.000 đồng, tiền của Nguyễn Thị T1 là 2.350.000 đồng.
  • + Ngày 12/4/2023, T3 nhận ghi số đề của Nguyễn Thị G các đài Bến Tre, Vũng Tàu (đài miền N) số 23, 32, 32, 72 mỗi số 1.000 đồng. Số tiền ghi đề 114.000 đồng (không có số trúng).
  • + Ngày 17/4/2023, T3 nhận ghi số đề của Nguyễn Quốc V các đài Huế, Phú Yên (đài miền T) số tiền 30.000 đồng. Số tiền ghi đề 1.080.000 đồng (không có số trúng).

- Đối với Lê Minh T4: Ngày 21/4/2023, T4 nhận ghi số đề các đài Bình Dương, Vĩnh Long, Trà Vinh (đài miền N) với Hồ Văn T5 cùng 02 người khác rồi chuyển cho Hà Thị Thu T3 để hưởng hoa hồng. Tổng số tiền T4 ghi số đề trong ngày 21/4/2023 là 56.625.000 đồng.

- Đối với Hồ Văn T5: Ngày 21/4/2023, T5 đánh số đề các đài Bình Dương, Vĩnh Long, Trà Vinh (đài miền N) với Lê Minh T4. Số tiền đánh đề là 54.000.000 đồng.

- Đối với Nguyễn Thị T1: Ngày 21/4/2023, T1 ghi số đề các đài Bình Dương, Vĩnh Long, Trà V1 (đài miền N) của Nguyễn Thị G và Bùi Đức T2 và tự ghi thêm một phần rồi chuyển cho T3. Tổng số tiền đánh bạc 2.350.000 đồng (trong đó, tiền ghi số đề của G là 636.000 đồng; tiền ghi số đề của T2 là 220.000 đồng; tiền ghi số đề của T1: 1.494.000 đồng);

2. Các vấn đề khác: Không

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

5

Tại Bản Cáo trạng số 93/CT-VKSTPBR ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố các bị cáo Hà Thị Thu Thảo và Lê Minh Tuấn về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 BLHS; bị cáo Hồ Văn T5 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS và đề nghị HĐXX:

[3.1] Về Trách nhiệm hình sự:

(a) Hình phạt chính:

  • Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo T3 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo T2 từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo T5 từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

(b) Hình phạt bổ sung:

  • Đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T3 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
  • Đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T2 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng
  • Đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T5 từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng

[3.2] Về xử lý vật chứng:

Đề nghị HĐXX: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20 màu đen, số IMEI: 354998112376402, gắn sim số thuê bao 0785244542; số tiền 3.000.000 đồng (thu giữ của Hà Thị Thu T3)
  • 01 điện thoại di động hiệu S1 Flip3, số IMEI: 355001764305503, gắn sim số thuê bao 0909476266; số tiền 40.500.000 đồng (thu giữ của Hồ Văn T5).
  • 01 điện thoại di động S1 A7, số IMEI 1: 353465103729495, số IMEI2: 353466103729493, gắn sim số thuê bao 0933757321 và 0765404354; số tiền 2.048.000 đồng (thu giữ của Lê Minh T4)

[4] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát

[5] Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi HĐXX nghị án:

6

  • Bị cáo T3: Bị cáo rất ăn năn hối hận, xin HĐXX cho bị cáo cơ hội để sữa đổi bản thân
  • Bị cáo T4: Rất hối hận về hành vi phạm tội, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm
  • Bị cáo T5: Bị cáo biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX cho bị cáo hình phạt nhẹ nhất

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với diễn biến của vụ án đã xảy ra, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được và biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, từ đó HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 21/4/2023, tại quán cà phê thuộc ấp T, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hà Thị Thu T3 đã nhận tin nhắn số đề các đài miền N do Lê Minh T4 ghi của người khác rồi chuyển cho T3 với số tiền 56.625.000 đồng. Cũng trong ngày 21/4/2023, T3 còn nhận thầu đề của Nguyễn Thị T1 với số tiền 2.350.000 đồng. Tổng số tiền ghi lô đề trong ngày 21/4/2023 là 58.975.000 đồng.

Ngày 21/4/2023, Lê Minh T4 nhận ghi số đề của Hồ Văn T5 và 02 người khác rồi chuyển cho Hà Thị Thu T3 để hưởng hoa hồng. Tổng số tiền ghi đề trong ngày 21/4/2023 là 56.625.000 (trong đó, tiền đánh bạc của T5 54.000.000 đồng; tiền đánh bạc của 02 người đàn ông không rõ lai lịch là 2.625.000 đồng). Số tiền hoa hồng T4 được hưởng là 2.023.840 đồng.

Xét thấy:

Đối với bị cáo Hà Thị Thu T3: Bị cáo T3 đã thuê bị cáo T4 ghi đề cho các con bạc và trả hoa hồng cho bị cáo T4. Tổng số tiền T4 ghi đề và chuyển cho bị cáo T3 trong ngày 21/4/2023 là 56.625.000 đồng. Bị cáo T4 được bị cáo T3 trả hoa hồng là 2.023.840 đồng. Không những nhận thầu đề từ bị cáo T4, bị cáo T3 còn nhận thầu đề từ Nguyễn Thị T1 với số tiền 2.350.000 đồng; do đó hành vi của bị cáo T3 và bị cáo T4 đã phạm vào tội

7

Tổ chức đánh bạc” với tình tiết định khung hình phạt là “Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 BLHS

Đối với bị cáo Lê Minh T4: Bị cáo T4 được bị cáo T3 thuê ghi đề, sau đó chuyển cho bị cáo T3 để hưởng hoa hồng. Trong ngày 21/4/2023, bị cáo T4 đã ghi đề cho T5 và 02 người đàn ông không rõ lai lịch là 56.625.000 đồng và được bị cáo T3 trả hoa hồng là 2.023.840 đồng; Do đó, hành vi của bị cáo T4 đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” với tình tiết định khung hình phạt là “Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 BLHS

Đối với bị cáo Hồ Văn T5: Trong ngày 21/4/2023, bị cáo Hồ Văn T5 đã đánh đề với số tiền 54.000.000 đồng, do đó hành vi của bị cáo T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” với tình tiết định khung hình phạt là “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Hành vi “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” trái phép của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những làm mất an ninh, trật tự tại địa phương mà còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo là những thanh niên đã trưởng thành nên nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi nên các bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận quần chúng, thực hiện hành vi phạm tội, do đó phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, để giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về phân hóa vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về vai trò của các bị cáo:

Bị cáo T3 và bị cáo T4 cố ý cùng thực hiện một tội phạm nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, thống nhất, cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn

Bị cáo T3 là người thầu đề, bị cáo T4 giúp sức cho bị cáo T3 trong việc ghi số đề để hưởng hoa hồng; do đó phải xử phạt bị cáo T3 với mức án nặng hơn bị cáo T4 là phù hợp.

[4.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

[4.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

8

  • Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
  • Bị cáo T3 có cha chồng là người có công với cách mạng và hiện bị cáo đang chăm sóc cha chồng; Bà ngoại chồng là bà mẹ Việt Nam anh hùng; Gia đình bị cáo T3 có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo lại là lao động chính trong gia đình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS
  • Bị cáo T4: Khi biết T3 bị bắt thì bị cáo T4 đã chủ động lên cơ quan công an đầu thú nên bị cáo T4 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS
  • Bị cáo T5: Khi biết T4 bị bắt thì T5 đã chủ động lên cơ quan công an đầu thú và tự nguyện giao nộp số tiền dùng để đánh bạc nên bị cáo T5 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS

Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, tính chất mức độ phạm tội của bị cáo xét thấy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và cũng không làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm chung tại địa phương

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đang trong độ tuổi lao động, có nghề nghiệp ổn định nên HĐXX áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp

  • Buộc bị cáo T3 nộp 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước
  • Buộc bị cáo T5 nộp 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước
  • Buộc bị cáo T3 nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20 màu đen, số IMEI: 354998112376402, gắn sim số thuê bao 0785244542, là điện thoại bị cáo T3 sử dụng để nhận đề; Số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) là số tiền thu lợi bất chính của bị cáo T3

9

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Flip3, số IMEI: 355001764305503, gắn sim số thuê bao 0909476266, là điện thoại bị cáo T5 dùng để ghi đề; Số tiền 40.500.000 đồng (bốn mươi triệu năm trăm ngàn đồng) là tiền bị cáo T5 dùng để đánh đề
  • 01 điện thoại di động S1 A7, số IMEI 1: 353465103729495, số IMEI2: 353466103729493, gắn sim số thuê bao 0933757321 và 0765404354, là điện thoại bị cáo T4 dùng để ghi đề cho các con bạc; số tiền 2.048.000 đồng (hai triệu không trăm bốn mươi tám ngàn đồng), là số tiền T4 ghi đề cho các con bạc

[7] Các vấn đề khác:

  • Đối với hành vi ghi số đề ngày 12/4/2023; 17/4/2023 và ghi số đề đài miền T ngày 21/4/2023 của Hà Thị Thu T3. Do số tiền dưới 5.000.000 đồng; T3 không có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc tội “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp
  • Đối với Trần Hùng S, qua làm việc, S khai trước đó có nhận số đề do T3 chuyển đến để thắng thua với người chơi. S thống nhất với T3 số tiền ghi đề mỗi ngày dao động từ khoảng vài trăm ngàn đồng đến dưới 4.000.000 đồng. Khi T3 gửi tin nhắn, S sẽ gửi tin nhắn hoặc gọi điện xác nhận số lô nhận hoặc tới quán của T3 để xác nhận. Ngày 21/4/2023, vào lúc khoảng 15 giờ S rớt điện thoại khi đi đường, S không biết T3 nhắn tin ghi số đề như thế nào, đài nào. Qua đối chất không đủ căn cứ xác định S đã xác nhận ghi số đề từ T3 nên không đủ cơ sở xử lý đối với S là phù hợp.
  • Đối với Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị G và Bùi Đức T2 có hành vi đánh bạc nhưng số tiền dưới 5.000.000 đồng; do T1, G và T2 không có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc” hoặc “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp
  • Đối với 02 đối tượng ghi số đề với T2 ngày 21/4/2023, do không rõ lai lịch để xác minh, làm rõ nên cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là có căn cứ.
  • Đối với người tên B sử dụng số thuê bao 0967572376 nhắn tin ghi số đề với T3 số tiền dưới 5.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã gửi công văn đến Tập đoàn V2 nhưng đến nay chưa có kết quả nên chưa đủ cơ sở xem xét xử lý đối với B.

[8] Về án phí HSST: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

10

- Bị cáo Hà Thị Thu T3 và bị cáo Lê Minh T4 phạm tội “Tổ chức đánh bạc

- Bị cáo Hồ Văn T5 phạm tội “Đánh bạc

[1] Về hình phạt chính:

[1.1] Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 65 BLHS

Xử phạt: Bị cáo T3 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 5 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án

Giao bị cáo cho UBND xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án Hình sự; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự

[1.2]. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 65 BLHS

+ Xử phạt bị cáo T4 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án

Giao bị cáo cho UBND xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án Hình sự; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự

[1.3] Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 BLHS

+ Xử phạt bị cáo Hồ Văn T5 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 5 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án

11

Giao bị cáo cho UBND xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 Luật Thi hành án Hình sự; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự

[2] Về hình phạt bổ sung:

[2.1] Áp dụng khoản 3 Điều 322 BLHS

  • Buộc bị cáo Hà Thị Thu T3 nộp 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước
  • Buộc bị cáo Lê Minh T4 nộp 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước

[2.2] Áp dụng khoản 3 Điều 321 BLHS

  • Buộc bị cáo Hồ Văn T5 nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A20 màu đen, số IMEI: 354998112376402
  • 01 (một) sim điện thoại số imei sim: 8401210833728738
  • 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Flip3, số IMEI: 355001764305503
  • 01 (một) sim điện thoại số imei sim: 8401180550362426GD;
  • 01 điện thoại di động S1 A7, số IMEI: 353465103729495
  • 02 (hai) sim điện thoại: Số imei sim 1: 8401180950635487WD; Số imei sim 2: 88401220792178755
  • Số tiền 45.548.000 đồng (bốn mươi lăm triệu năm trăm bốn mươi tám ngàn đồng)

(Toàn bộ vật chứng hiện Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bà Rịa đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 44/BB.THA ngày 05/02/2024 và Giấy Ủy nhiệm chi số 11 ngày 21/02/2024)

[4] Về án phí HSST:

12

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí HSST

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12-7-2024), riêng người vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết công khai, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mai

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu( PV27);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - Bị cáo; các đương sự khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hà Thị Thu t3 và Lê Minh T4 phạm tội Tổ chức đánh bạc; bị cáo Hồ Văn T5 phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger