Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày: 10-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Nhất Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
  2. Ông Nguyễn Văn Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 10/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 18/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 24/6/2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Vũ Hoàng T; sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 650/4/34 Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 6 Đ, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Vũ T1 (chết) và bà Phạm Thị Mỹ T2; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân:

    • Năm 2010 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử 02 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 158/2010/HSST ngày 18/11/2010. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2011 xong, đã chấp hành xong án phí và hình phạt tiền bổ sung ngày 25/5/2018.
    • Năm 2014 bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 78/2014/HSST ngày 30/05/2014. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/09/2016, đã chấp hành xong án phí ngày 02/7/2014.
    • Năm 2018 bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo Bản án số 23/2018/HSST ngày 04/04/2018. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2021; Đã chấp hành xong án phí ngày 25/5/2018.

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2024 (có mặt)

  2. Trương Thị Phi L; sinh năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 143/84/32/20 L, KP A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Phi H và bà Lê Thị B (chết); Chưa có chồng, có 02 con (con lớn sinh năm 2012 và con nhỏ sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 02/01/2024 (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 17 giờ 20 ngày 02/01/2024, tại trước nhà số A H, Phường A, Quận A, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra Tội phạm về ma túy Công an Q phát hiện Bùi Vũ Hoàng T đang điều khiển xe môtô biển số 84B1-239.24 chở Trương Thị Phi L có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở Công an P, Quận A kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện L đang cầm trên tay 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, L, T khai nhận là ma túy tổng hợp của hai người đem đi giao cho người mua thì bị phát hiện. Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T, L chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q xử lý.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định tinh thể không màu đã thu giữ, tại Bản kết luận giám định số 760/KL-KTHS ngày 10/01/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

“Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4471gam, loại Methamphetamine”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, hai bị can Bùi Vũ Hoàng T, Trương Thị Phi L khai nhận: Hai người sống chung với nhau như vợ chồng tại số F Đ, Phường A, Quận A. Khoảng 17 giờ ngày 02/01/2024, T nhận được điện thoại số 0797.261.xxx, của một người bạn tên N (không rõ nhân thân lai lịch) nhờ mua giùm 300.000 đồng ma túy đá, mang về giao cho N và N sẽ cho T 100.000 đồng tiền công. Lúc này, L ngồi gần bên T nên nghe thấy việc T trao đổi với N. T rủ L cùng đi mua ma túy cho N thì L đồng ý. Do T không còn tiền để mua ma túy nên N kêu T qua gặp N tại trước cổng nhà hàng Q1 đường L, Phường A, Quận A để lấy tiền. T điều khiển xe môtô biển số 84B1-23924 chở L đến điểm hẹn gặp N đã đứng chờ sẵn. N đưa cho L 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó, T điều khiển xe chở L đến đầu hẻm F C, Phường A, Quận A, dừng xe ở đầu hẻm chờ. L đi vào trong hẻm, đến trước nhà số F C, Phường A, Quận A gặp người phụ nữ tên “Sương” (không rõ lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau đó, L cầm gói ma túy trên tay, đi ra lên xe T chở đi giao cho N thì bị kiểm tra phát hiện bắt giữ như trên. Đây là lần đầu tiên T và L mua giùm ma túy cho N để được trả công.

Cơ quan điều tra đã cho L chỉ điểm và xác minh, kết quả: Tại số nhà F C, Phường A, Quận A và khu vực xung quanh không có đối tượng nữ nào tên S có đặc điểm nhận dạng như bị can L mô tả. Qua rà soát xác định tại trước nhà số F C, Phường A, Quận A không có hệ thống camera quan sát.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn gửi Trung tâm tính cước và thanh khoản V đề nghị xác minh chủ thuê bao, sử dụng số điện thoại 0797.261.xxx, nhưng đến nay chưa có kết quả.

Tài sản, vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, vụ 760 (275/24) bên trong có 0,3049g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi có số Imei: 861440051949424, có số thuê bao 0933124059, bị can T sử dụng vào việc phạm tội.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 84B1-23924, số khung: VHSBCG033HS000006, số máy: HD100FMG83101103, hai bị can sử dụng làm phương tiện phạm tội. Kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi. Xe do ông Trần Xuân S1 đứng tên đăng ký chủ sở hữu, sau đó đã bán cho một người không rõ lai lịch, do khi bán không làm giấy mua bán xe. Bị can T khai mua xe của một người đàn ông (không rõ lai lịch) vào khoảng tháng 4/2023 và sử dụng làm phương tiện phạm tội. Ngày 02/5/2024, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm người có liên quan đến làm việc nhưng chưa có kết quả.
  • Số tiền 200.000 đồng, là tiền do các bị can phạm tội mà có.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có Quyết định chuyển các vật chứng trên đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • 01 (một) điện thoại di động Samsung, số I: 35379393104420339/01, số thuê bao 0767890344, là tài sản của L không liên quan đến vụ án. Theo yêu cầu của bị can L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q ra quyết định xử lý vật chứng bàn giao cho chị Trương Thị Phi H1 – là chị ruột của bị can để quản lý.

Tại Bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 18/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố để xét xử đối với các bị cáo Bùi Vũ Hoàng T, Trương Thị Phi L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 vẫn giữ quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) và đề nghị:

Xử phạt bị cáo Bùi Vũ Hoàng T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Xử phạt bị cáo Trương Thị Phi L mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; xét

  • 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, vụ 760 (275/24) bên trong có 0,3049g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật cấm tàng trữ nên tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi có số Imei: 861440051949424, có số thuê bao 0933124059, bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 84B1-23924, số khung: VHSBCG033HS000006, số máy: HD100FMG83101103, hai bị can sử dụng làm phương tiện phạm tội. Kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi. Xe do ông Trần Xuân S1 đứng tên đăng ký chủ sở hữu, sau đó đã bán cho một người không rõ lai lịch, do khi bán không làm giấy mua bán xe. Bị can T khai mua xe của một người đàn ông (không rõ lai lịch) vào khoảng tháng 4/2023 và sử dụng làm phương tiện phạm tội. Ngày 02/5/2024, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm người có liên quan đến làm việc nhưng chưa có kết quả nên tiếp tục đăng báo tìm chủ sỡ hữu hợp pháp trong thời hạn 01 năm. Hết thời hạn không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Số tiền 200.000 đồng, là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Các bị cáo không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà các bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Xét, đã có đủ cơ sở kết luận: Muốn có tiền tiêu xài và thỏa mãn nhu cầu nghiện ngập, các bị cáo Bùi Vũ Hoàng TTrương Thị Phi L có hành vi cất giữ 0,4471gam ma túy, ở thể rắn loại Methamphetamine, để đem giao cho người đặt mua ma túy thì bị phát hiện bắt giữ vào khoảng 17 giờ 20 phút ngày 02/01/2024, tại trước nhà số A H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác. Các bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng với động cơ vụ lợi bất chính nên vẫn cố ý phạm tội.

Trong vụ án, các bị cáo phạm tội có tính đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có tổ chức. Trong đó bị cáo T là người khởi xướng, trực tiếp liên lạc với đối tượng đặt mua ma túy để hưởng lợi và trực tiếp chở bị cáo L đi mua ma túy. Bị cáo L giúp sức tích cực nên vai trò có phần hạn chế hơn.

Xét, bị cáo T có nhân thân rất xấu, nhiều lần bị xử phạt tù về các tội chiếm đoạt tài sản, trong thời gian cải tạo không chịu sữa chữa mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật, đo đó cần có mức hình phạt thật nghiêm.

Đối với người phụ nữ tên S và người đàn ông tên N là người đã bán và mua ma túy của hai bị cáo, hiện chưa xác định rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau là có căn cứ.

[4] Các tình tiết tăng nặng: Không có

[5] Các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi xem xét khách quan, toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo tiếp tục cải tạo. Hình phạt đối với các bị cáo cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xét:

  • 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, vụ 760 (275/24) bên trong có 0,3049g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật cấm tàng trữ nên tiêu hủy.
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi có số Imei: 861440051949424, có số thuê bao 0933124059, bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 84B1-23924, số khung: VHSBCG033HS000006, số máy: HD100FMG83101103, hai bị can sử dụng làm phương tiện phạm tội. Kết quả giám định số khung, số máy không thay đổi. Xe do ông Trần Xuân S1 đứng tên đăng ký chủ sở hữu, sau đó đã bán cho một người không rõ lai lịch, do khi bán không làm giấy mua bán xe. Bị can T khai mua xe của một người đàn ông (không rõ lai lịch) vào khoảng tháng 4/2023 và sử dụng làm phương tiện phạm tội. Ngày 02/5/2024, Cơ quan điều tra đã đăng báo tìm người có liên quan đến làm việc nhưng chưa có kết quả. Do đó, cần tiếp tục tạm giữ và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu trong thời hạn 01 năm, hết thời hạn trên không có người nhận thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
  • Số tiền 200.000 đồng, là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Vũ Hoàng T, Trương Thị Phi L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy

  • Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Bùi Vũ Hoàng T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 02/01/2024.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).
  • Xử phạt bị cáo Trương Thị Phi L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 02/01/2024.
  • Miễn áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 228 Bộ luật Dân sự năm 2015.

+ Tiêu hủy:

  • 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra, vụ 760 (275/24) bên trong có 0,3049g ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định).

+ Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi có số Imei: 861440051949424, có số thuê bao 0933124059.
  • Số tiền 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
  • Tiếp tục tạm giữ và đăng công báo truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 84B1-23924, số khung: VHSBCG033HS000006, số máy: HD100FMG83101103, trong thời hạn 01 (một) năm, hết thời hạn trên không có người nhận hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 28/QĐ-VKS ngày 07/6/2024 và ủy nhiệm chi số 07 ngày 03/7/2024)

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 10;
  • - Công an Quận 10, PV06;
  • - Chi cục Thi hành án DS Quận 10;
  • - Các bị cáo
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Nhất Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger