Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/DS-PT

Ngày: 10 - 5 - 2024

V/v: “Đòi lại tài sản”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy

Các Thẩm phán: Ông Phan Minh Dũng

Ông Nguyễn Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định: Bà Lữ Thị Xuân Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý 14/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Đòi lại tài sản và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 156/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 48/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Phan Hữu N sinh năm 1968; trú tại: Tổ C, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, có mặt;
  • * Bị đơn: Ông Phạm Quang B, sinh năm 1971; trú tại: Xóm B, thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Lê Thị Ngọc D sinh năm 1970; trú tại: Tổ C, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, có mặt;
    • - Bà Lê Thị Kim T, sinh năm 1975; trú tại: Xóm B, thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định (bà T có đơn uỷ quyền cho ông B tham gia tố tụng).
    • - Ông Phạm T1, sinh năm 1949; trú tại: Xóm B, thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
    • - Bà Lê Thị C sinh năm 1954; trú tại: Xóm B, thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt;
  • Người kháng cáo: Bị đơn Ông Phạm Quang B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim T, Ông Phạm T1, Bà Lê Thị C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn ông Phan Hữu N trình bày: Tháng 9 năm 2017 vợ chồng ông có mua lại đất và nhà ở gắn liền với đất của vợ chồng ông Phạm Quang B và bà Lê Thị Kim T. Thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6 tọa lạc tại thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định diện tích 360m². Trong đó đất ở lâu dài 200m² và đất trồng cây lâu năm 160m². Hai bên đã thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vào ngày 25/9/2017 tại Phòng C1 tỉnh Bình Định. Văn Phòng C2 tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 25/9/2017 và Văn Phòng quản lý đất đai tỉnh B xác nhận sang tên đổi chủ cho vợ chồng ông ngày 17/11/2017. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng nhà ở và đất ở vợ chồng ông có cho vợ chồng ông Phạm Quang B và bà Lê Thị Kim T ở tạm đến hết năm 2019 vì họ chưa tìm ra chỗ ở mới. Vợ chồng ông B và bà T là sui gia với chị ruột của ông, vì chỗ thông gia nên vợ chồng ông tạo điều kiện cho họ ở tạm trong thời gian là 02 năm đến hết năm 2019 phải dọn đi và giao trả nhà nhưng đến nay ông đã đòi nhà nhiều lần mà họ cứ chây ỳ không giao trả mà đưa cha của ông B là ông Phạm Thanh đ ra cản trở. Tháng 5/2022, ông gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã N, Ủy ban nhân dân mời gia đình họ đến hòa giải nhưng bất thành vì sự chây ỳ của cha con ông B, ông T. Ngày 5/6/2022, sau khi Ủy ban nhân dân xã N mời cha con họ đến giải thích thì ông B chở ông T đến nhà ông ở Q đặt vấn đề muốn vợ chồng ông bán lại ngôi nhà và đất của vợ chồng ông cho họ ở tạm nhưng quá hạn quy định họ vẫn chưa giao trả. Ông T có hứa trong vòng 01 tháng sẽ lo đủ tiền để vợ chồng ông bán lại nhà và đất nói trên nhưng sau đó họ không liên lạc, cũng không nói gì việc mua lại nhà đất mà cứ tiếp tục chây ỳ không giao trả nhà.

Ông yêu cầu vợ chồng ông Phạm Quang B và bà Lê Thị Kim T phải giao trả lại cho vợ chồng ông theo như hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở đã được Ủy ban nhân dân thị xã A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00576 ngày 11/2/2015 mà hiện nay vợ chồng ông B, bà T đang quản lý sử dụng.

* Theo bản tự khai, biên bản ghi lời khai, quá trình tố tụng bị đơn ông Phạm Quang B trình bày: Ông và ông Phan Hữu N, bà Lê Thị Ngọc D là thông gia với nhau. Nhà đất hiện nay ông N đang tranh chấp trước kia là của cha Phạm T1 và mẹ là Lê Thị C đã làm thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất lại cho ông và vợ Lê Thị Kim T thửa đất số 302 tờ bản đồ số 6 địa chỉ thôn A, xã N, thị xã A có diện tích 360m², trong đó đất ở 200m², đất trồng cây lâu năm 160m², có ngôi nhà 95,54m² và được UBND thị xã A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông là Phạm Quang B và vợ là Lê Thị Kim T theo số: CH00576 vào ngày 11/2/2015. Năm 2015 vợ chồng ông thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay ngân hàng số tiền gốc 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng về để làm ăn. Sau khi vay không có tiền trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng C3 đã nhờ thông gia là ông Phan Hữu N và bà Lê Thị Ngọc D trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra. Sau khi lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra, vợ chồng ông cùng ông N tới Văn phòng công chứng ở thành phố Q để công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở mà ông không đọc rõ nội dung hợp đồng, ông xác định Tòa án cho ông xem hợp đồng chuyển nhượng đất và quyền sở hữu nhà ở đúng là chữ ký của ông và vợ Lê Thị Kim T nhưng vào thời gian nào là ông không nhớ. Sau khi làm hợp đồng chuyển nhượng thì ông N, bà D đã xác định sang tên ông N, bà D hay chưa thì ông không biết. Ông muốn thương lượng với ông N, bà D việc chuyển nhượng lại với giá cả phù hợp vì ông không còn chỗ ở nào khác.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm T1 trình bày: Ông không có bà con với ông Phan Hữu N, còn Phạm Quang B là con trai của ông. Hiện nay nhà đất mà vợ chồng ông Phan Hữu N, Lê Thị Ngọc D khởi kiện đòi lại nhà, đất mà hiện nay nhà, đất này ông và con trai Phạm Quang B và con dâu Lê Thị Kim T đang ở được UBND thị xã A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người sử dụng Phạm Quang BLê Thị Kim T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng số: CH00576 ngày 11/02/2015. Sau khi B, T có giấy chứng nhận đã đem giấy chứng nhận thế chấp vay ngân hàng. T, B vay không có tiền trả nợ cho ngân hàng cho nên họ đến nhà gia hạn thêm 01 tháng nếu không có tiền trả ngân hàng sẽ khởi kiện. Vợ chồng Phan Hữu N và bà Lê Thị Ngọc D là thông gia với Phạm Quang B đã đứng ra trả nợ cho ngân hàng lấy giấy chứng nhận nhà, đất của B, T ra có làm thủ tục chuyển nhượng lại cho vợ chồng N, D hay không ông không rõ. Ông yêu cầu ông N, bà D đưa ra sổ đỏ để chứng minh, nếu có thì ông trả lại nhà, đất. Nếu con trai và con dâu ông Phạm Quang BLê Thị Kim T đã bán nhà và chuyển nhượng sử dụng đất cho ông N, bà D thi cho ông chuộc lại nhà, đất. Trường hợp ông N, bà D quyết đòi lại nhà, đất thì khi nào ông và vợ Lê Thị C chết thì ông N, bà D đến lấy lại nhà, đất, vì đây là nhà, đất duy nhất mà vợ chồng ông, con trai và con dâu đang ở.

  • - Bà Lê Thị Ngọc D thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông Phan Hữu N.
  • - Bà Lê Thị C thống nhất lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Phạm Thanh.
  • - Bà Lê Thị Kim T vắng mặt nên không có lời trình bày.

Bản án dân sự sơ thẩm số 156/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định quyết định:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 220, Điều 264, Điều 267, Điều 271, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166, Điều 169 của Bộ luật dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 118, Điều 120, khoản 1 Điều 122 của Luật Nhà ở;

Áp dụng khoản 16 Điều 3, khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai;

Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Hữu N.
  2. Buộc ông Phạm Quang B, ông Phạm T1, bà Lê Thị Kim T, bà Lê Thị C là người đang quản lý, sử dụng nhà đất trả lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất thuộc thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, tạo lạc tại thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông Phan Hữu NLê Thị Ngọc D. Thửa đất có diện tích được công nhận quyền sử dụng 360m² (trong đó 200m² đất ở và 160m² đất trồng cây lâu năm) đã được UBND thị xã A, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T theo số CH00576 ngày 11/12/2015. Ngày 17/11/2017, Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh B đã ký xác nhận thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận đã chuyển nhượng cho ông Phan Hữu N và bà Lê Thị Ngọc D. (Có sơ đồ hiện trạng nhà và đất lập ngày 25/5/2023 kèm theo).
  3. Ông Phạm Quang B, ông Phạm T1, bà Lê Thị Kim T, bà Lê Thị C được quyền lưu cư ở nhà, đất trên trong thời hạn 04 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực thi hành. Trong thời gian lưu cư những người lưu cư không được làm thay đổi hiện trạng nhà, đất (có sơ đồ hiện trạng nhà, đất lập ngày 25/5/2023 kèm theo).
  4. Ông Phan Hữu NLê Thị Ngọc D phải giao số tiền 50.000.000 đồng cho vợ chồng ông Phạm Quang BLê Thị Kim T khi bản án có hiệu lực thi hành.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về phần án phí, chi phí đo đạc, thẩm định tại chỗ; quyết định về quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Ngày 25 tháng 12 năm 2023, bị đơn Ông Phạm Quang B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Lê Thị Kim T, ông Phạm T1, bà Lê Thị C kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa ông B, ông T1 và bà Cẩm g nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn căn cứ Điều 166 BLDS xác định lại quan hệ pháp luật là “Đòi lại tài sản”; không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T, ông Phạm T1, bà Lê Thị C. Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm số 156/2023/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T, ông Phạm T1, bà Lê Thị C trong hạn luật định, hình thức và nội dung đơn đúng quy định nên được chấp nhận.
  2. [2] Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phan Hữu N khởi kiện yêu cầu ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T và ông Phạm T1, bà Lê Thị C phải trả lại nhà và tài sản trên đất cho vợ chồng ông N. Theo quy định tại Điều 166 BLDS thì đây là tranh chấp “Đòi lại tài sản”. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Đòi lại tài sản và chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất” là chưa chính xác, nên HĐXX phúc thẩm sửa án sơ thẩm, xác định lại quan hệ pháp luật là “Đòi lại tài sản”.
  3. [3] Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
    • [3.1] Ngày 25/9/2017, vợ chồng ông Phan Hữu N, bà Lê Thị Ngọc D và vợ chồng ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất thuộc thửa số 302 tờ bản đồ số 6, diện tích 360m² (đất ở 200m², đất trồng cây lâu năm 160m²), tọa lạc tại thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, hợp đồng chuyên nhượng được công chứng tại Phòng công chứng số A tỉnh Bình Định. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông Phan Hữu N, bà Lê Thị Ngọc D làm thủ tục đăng ký biến động sang tên quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B đăng ký biến động vào ngày 17/11/2017. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng, vợ chồng ông B, bà T xin vợ chồng ông N, bà D cho ở tạm trong thời gian 02 năm để ông B, bà T tìm nơi ở mới rồi trả lại nhà, đất cho ông ND. Nhưng sau khi hết thời hạn 02 năm, ông N, bà D đòi lại nhà và đất thì vợ chồng ông B, bà T và vợ chồng ông Phạm T1, bà Lê Thị C là những người đang sống tại nhà và đất của ông N, bà D không đồng ý trả lại nhà đất ông N, bà D vì lý do muốn thương lượng với vợ chồng ông ND xin được chuyển nhượng lại nhà, đất để ở nhưng không được ông N, bà D chấp nhận.
    • [3.2] Xét thấy thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, diện tích 360m² (đất ở 200m², đất trồng cây lâu năm 160m²) tọa lạc tại thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định và tài sản trên đất được UBND thị xã A cấp giấy chứng nhận cho vợ chồng ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T theo số CH00576 ngày 11/02/2015. Đến năm 2017 ông B, bà T chuyển nhượng lại nhà, đất cho ông N, bà D theo đúng trình tự, thủ tục giao dịch về nhà ở tại Khoản 1 Điều 118, Điều 120 và khoản 1 Điều 122 của Luật Nhà ở và Điều 223 của Bộ luật dân sự nên ông N, bà D là người có quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 166, Điều 169 của Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Phan Hữu N và bà Lê Thị Ngọc D buộc ông Phạm Quang B, ông Phạm T1, bà Lê Thị Kim T, bà Lê Thị C là người đang quản lý, sử dụng nhà, đất trả lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông N và bà D là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của các đương sự.
    • [4] Về án phí: Kháng cáo của bị đơn ông Phạm Quang B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim T, ông Phạm T1, bà Lê Thị C không được chấp nhận nên ông B, bà T1 mỗi người người phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Ông Phạm T1, bà Lê Thị C là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
    • [5] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
    • [6] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Phạm Quang B và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Kim T, ông Phạm T1, bà Lê Thị C, sửa bản án sơ thẩm về phần xác định quan hệ pháp luật là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166, Điều 169 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 118, Điều 120, khoản 1 Điều 122 của Luật Nhà ở;

Căn cứ khoản 16 Điều 3, khoản 7 Điều 166, khoản 1 Điều 167 của Luật Đất đai;

Căn cứ Điều 12, 14, Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T, ông Phạm T1, bà Lê Thị C. Sửa bản án sơ thẩm, xác định lại về quan hệ pháp luật là “Đòi lại tài sản”.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phan Hữu N.
  2. Buộc ông Phạm Quang B, ông Phạm T1, bà Lê Thị Kim T, bà Lê Thị C là người đang quản lý, sử dụng nhà đất trả lại quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền đất thuộc thửa đất số 302, tờ bản đồ số 6, tạo lạc tại thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định cho vợ chồng ông Phan Hữu NLê Thị Ngọc D. Thửa đất có diện tích được công nhận quyền sử dụng 360m² (trong đó 200m² đất ở và 160m² đất trồng cây lâu năm) đã được UBND thị xã A, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T theo số CH00576 ngày 11/12/2015. Ngày 17/11/2017, Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh B đã ký xác nhận thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận đã chuyển nhượng cho ông Phan Hữu N và bà Lê Thị Ngọc D. (Có sơ đồ hiện trạng nhà và đất lập ngày 25/5/2023 kèm theo).
  3. Ông Phạm Quang B, ông Phạm T1, bà Lê Thị Kim T, bà Lê Thị C được quyền lưu cư ở nhà, đất trên trong thời hạn 04 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực thi hành. Trong thời gian lưu cư những người lưu cư không được làm thay đổi hiện trạng nhà, đất (có sơ đồ hiện trạng nhà, đất lập ngày 25/5/2023 kèm theo).
  4. Ông Phan Hữu NLê Thị Ngọc D phải giao số tiền 50.000.000 đồng cho vợ chồng ông Phạm Quang BLê Thị Kim T khi bản án có hiệu lực thi hành.
  5. Về án phí: Buộc ông Phạm Quang B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Phan Hữu N 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005575 ngày 26/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.
  6. Về lệ phí đo đạc, thẩm định: Buộc ông Phạm Quang B phải chịu 7.000.000 (bảy triệu) đồng. Ông Phan Hữu N đã nộp tạm ứng xong nên buộc ông Phạm Quang B phải hoàn trả lại cho ông Phan Hữu N 7.000.000 (bảy triệu) đồng
  7. Án phí DSPT: Ông Phạm Quang B, bà Lê Thị Kim T mỗi nười phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ mà ông B đã nộp và 300.000đ ông B nộp thay cho bà T theo biên lai số 0005226 và 0005227 ngày 29/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông Phạm T1 và bà Lê Thị C được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
  8. Phần quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
    • 8.1.Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • 8.2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án 5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  10. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - TAND thị xã An Nhơn;
  • - CCTHADS thị xã An Nhơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DS-PT ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về đòi lại tài sản

  • Số bản án: 89/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Phan Hữu Nh khởi kiện đòi lại nhà, đất với ông Phạm Quang B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger