Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 89/2024/HSST

Ngày 10 tháng 5 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Chu Thị Tuyết

2. Ông Nguyễn Quang Đạt

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy - là thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2024/HSST ngày 11/4/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2024/QĐXXST – HS ngày 22/4/2024, đối với bị cáo:

Trần Thanh T

sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: Phòng 1712 T3 chung cư T, A, huyện H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Văn N và bà Nguyễn Thị B; Có vợ là Đỗ Thị T1; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo đang tại ngoại, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Đỗ Thị T1 hiện đang kinh doanh bán quần áo trên trang Facebook với tài khoản “Xưởng May Đổ B1, Sỉ Quần Áo T”. Ngày 22/4/2023, Nguyễn Thị Mai A dùng tài khoản Facebook “Bông Bé” nhắn tin vào trang Facebook bán quần áo của T1 mua 06 bộ quần áo trẻ em với giá 410.000 đồng và yêu cầu T1 giao hàng đến tòa nhà N L, N, T, Hà Nội, số điện thoại nhận hàng là số 0327643378 của bà Nguyễn Thị H là giúp việc nhà Mai A. Quá trình lên đơn hàng, T1 ghi nhầm giá đơn hàng từ 410.000 đồng thành 239.000 đồng. Sau khi giao hàng, T1 phát hiện nhầm lẫn tiền nên đã nhắn tin cho Mai A để xin lại số tiền thu thiếu là 171.000 đồng. Tuy nhiên, qua nhắn tin nói chuyện, Mai A và T1 xảy ra bất đồng, nhắn tin chửi nhau và thách thức nhau. Mai A hẹn T1 đến nhà tại phòng A tòa N L, N, T, Hà Nội gặp để giải quyết nhưng T1 lại hẹn hai bên gặp nhau tại G, chung cư P Triều K, Thanh Xuân N, T, Hà Nội. Sau đó, T1 nhờ bạn là chị Nguyễn Thu H1 đến chỗ hẹn gặp Mai A trước, T1 cùng chồng là Trần Thanh T sẽ đến điểm hẹn sau. Chị H1 cùng bạn là anh Phùng Nghĩa C ra sảnh chung cư P đợi trước, sau đó thì T1 và T đến. Khi Mai A chưa tới, thấy có 2 người đàn ông lạ mặt, một người mặc áo cộc tay màu đen, quần đùi màu đen, đi dép và đeo khẩu trang và một người đàn ông mặc áo cộc tay màu đen, mặc quần dài màu đen, đội mũ lưỡi trai ngồi trên xe máy SH màu trắng thì T1 đi tới khu vực có 02 nam giới nêu trên để hỏi có phải họ đến trả tiền hàng không thì một nam giới bảo T1 là chờ một lát. Khoảng 2 phút sau, thì Mai A đến cùng Lê Văn Đ là chồng của Mai A và đi đến trước sảnh chung cư P. M anh và Đ tiến đến phía T1, ngay lập tức, Đ rút từ trong túi quần ra một vật hình trụ tròn dí vào đầu T1, rồi dùng chân phải đạp vào bụng T1. Tiếp theo, Đông rút từ trong người ra một con dao và đuổi theo T1 và T. Trong lúc đó, Mai A lao vào dùng tay túm và giật tóc chị H1, đồng thời dùng tay phải tát vào mặt và đầu chị H1. Lúc này, có một người nam giới lạ mặt lúc đầu tiến tới gần chị H1 nhưng chị H1 không biết anh ta có đánh mình hay không. Chị H1 giật vung tay của Mai A rồi thoát ra, được anh C dẫn đi bỏ chạy vào trong tầng 1 của chung cư P. Cùng thời điểm đó, T và T1 bị Đ cầm dao cùng 1 thanh niên khác cầm theo khúc gỗ đuổi đánh, người nam giới cầm 01 gậy gỗ dài khoảng 1,6m vụt về phía T, T đưa tay lên đỡ thì bị vụt trúng vào tay, Đ có dùng dao đâm về phía T nhưng không trúng, T1 bị một nam giới lạ mặt cầm khúc gỗ vụt trúng vào tay trái rồi T1 và T cùng nhau bỏ chạy theo đường nội khu ra tới sảnh chính của chung cư P. Khi tới trước sảnh chính, T lấy được một chiếc biển cấm đỗ xe bằng kim loại dài khoảng 1,5m của bảo vệ tòa nhà cầm đuổi đánh lại. Khi được bảo vệ tòa chung cư can ngăn thì Đ và nam giới cầm khúc gỗ quay lại sảnh sau của chung cư. Lúc này, T đi ra khu công trường đang thi công cạnh chung cư nhặt 01 chiếc cuốc chim bằng kim loại và nhặt 1 viên gạch đuổi theo Đ và người đàn ông cầm khúc gỗ, T1 cũng nhặt 1 viên gạch cầm trên tay chạy theo T để đi tìm H1 thì bị T giật lại viên gạch vứt đi. T đuổi theo được người nam giới trên không được nên quay lại để chiếc cuốc chim vào vị trí cũ. Khi chị H1 và anh C đi ra khỏi hầm gửi xe để quay lại sảnh sau chung cư thì gặp T1. Cả 3 người đi vào trong sảnh tầng 1 gần khu vực thang máy thì thấy Đ và Mai A đi từ sảnh chính vào. Đ dùng chân phải đạp vào bụng T1, T1 tóm được chân của Đ, dùng tay đẩy chân của Đ ra rồi bỏ chạy. Được bảo vệ can ngăn thì tất cả các đi ra đường nội khu trước sảnh chính chung cư. Lúc này, T cầm trên tay trái 01 gậy kim loại dài khoảng 1,5m, tay phải cầm viên gạch đi tìm nhóm của Đ nhưng bị một số người giữ lại thanh kim loại. Hai bên đứng tranh cãi một lúc thì cơ quan công an đến. Lúc này, Mai A, Đ cùng hai nam giới đi xe SH bỏ đi, T1, T và chị H1 đến cơ quan công an trình báo sự việc và được đề nghị đi khám thương và giám định thương tích.

Cơ quan Công an thu giữ: 02 đĩa CD ghi lại nội dung vụ án từ camera an ninh của tòa chung cư P; 01 biển dùng đỗ xe bằng kim loại chiều cao khoảng 1m, bề ngang khoảng 40cm; 01 thanh gỗ màu nâu, dài khoảng 160cm.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4147/KL-KTHS của V - BCA xác định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Đỗ Thị T1 thời điểm giám định là: 0%

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4146/KL-KTHS của V - BCA xác định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thu H1 thời điểm giám định là: 0%

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 4148/KL-KTHS của V - BCA xác định: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Thanh T thời điểm giám định là: 01%. Tổn thương trên căng tay phải của anh T do vật tày gây nên.

Tại Cơ quan điều tra Lê Văn Đ và Trần Thanh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Đối với 2 người đàn ông đi xe SH tham gia đánh nhóm của T và T1, Đ khai không biết họ là ai, tên tuổi địa chỉ là gì, chỉ thấy họ cũng đánh T và T1, Đ không nhờ họ. T khai quá trình xảy ra vụ việc không thấy Đ và Mai A nói chuyện gì với 2 người đàn ông đi xe SH, sau khi xảy ra vụ việc thì họ nói gì T không nghe được. Do đó chưa đủ căn cứ chứng minh 2 người đàn ông đi xe SH đánh nhóm của T và T1 là cùng nhóm với Đ và Mai A, Cơ quan điều tra chưa có thông tin để xác minh, xử lý 2 đối tượng này.

Đối với thương tích của T, quá trình đuổi đánh nhau Đ có dùng dao khua về phía T nhưng ko trúng chỉ gây xước da, không tạo nên thương tích, thương tích trên cẳng tay phải của T do người đàn ông cầm gậy gỗ gây ra. Do các thương tích nhỏ nên T xin rút yêu cầu khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích và không đề nghị bồi thường về dân sự.

Đối với chị Đỗ Thị T1, chị T1 bị Đ đánh nên đã bỏ chạy, quá trình chạy theo T chị T1 có cầm gạch nhưng chị T1 cầm gạch để phòng vệ và đi tìm chị H1, sau đó thì bị T giằng lại. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, chưa đủ căn cứ chứng minh chị T1 có hành vi gây rối trật tự công cộng theo quy định tại Điều 318 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị T1.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Mai A và Lê Văn Đ về tội gây rối trật tự Công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị can Nguyễn Thị Mai A hiện đang điều trị tại V1 theo quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 09/QĐ-VKS-P3 ngày 10/7/2020 của Viện KSND thành phố H. Bị can Lê Văn Đ hiện đang bàn giao cho V1 để giám định tâm thần theo quyết định trưng cầu giám định tâm thần số 583 ngày 30/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. Do đó, Cơ quan điều tra quyết định tách hồ sơ tài liệu liên quan đến Nguyễn Thị Mai A, Lê Văn Đ và 2 đối tượng nam chưa xác minh được nhân thân, lai lịch; quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can Nguyễn Thị Mai A và Lê Văn Đ, Tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Thị Mai A và Lê Văn Đ để chờ kết quả giám định xử lý sau.

Bản cáo trạng số 63/CT – VKS ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố Trần Thanh Tùng tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thanh T về tội Gây rối trật tự công cộng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điêm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; ấn định thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo T về chính quyền địa phương xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu huỷ: 01 biển dừng đỗ xe cao khoảng 1m, bề ngang khoảng 40 cm, đã qua sử dụng; 01 thanh gỗ màu nâu kích thước khoảng 160 cm, dày khoảng 5cm.

Bị cáo Trần Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến bào chữa và cũng không tranh luận với bản luận tội và kết tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu, thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra và vật chứng thu được trong vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 26/4/2023, Trần Thanh T có hành vi dùng hung khí là gạch, cuốc chim bằng kim loại, thanh kim loại, biển cấm đỗ xe bằng kim loại đuổi đánh nhau ở sảnh chung cư P Triều K, Thanh Xuân N, T, Hà Nội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn tại khu dân cư. Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Thanh T phạm vào tội Gây rối trật tự công cộng với tình tiết định khung hình phạt “Dùng hung khí”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng và an ninh an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của nhân dân, gây bức xúc cho dư luận. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội Gây rối trật tự công cộng nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời giáo dục người khác biết tôn trọng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu có nhân thân tốt. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ vào những tình tiết trên để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Trần Thanh T có nơi cư trú rõ ràng nên xét không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng cho bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định một thời gian thử thách, giao bị cáo về nơi cư trú quản lý giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Về các vấn đề khác:

Đối với 2 người đàn ông đi xe SH tham gia đánh nhóm của T và T1, Đ khai không biết họ là ai, tên tuổi địa chỉ là gì, chỉ thấy họ cũng đánh T và T1, Đ không nhờ họ. T khai quá trình xảy ra vụ việc không thấy Đ và Mai A nói chuyện gì với 2 người đàn ông đi xe SH, sau khi xảy ra vụ việc thì họ nói gì T không nghe được. Do đó chưa đủ căn cứ chứng minh 2 người đàn ông đi xe SH đánh nhóm của T và T1 là cùng nhóm với Đ và Mai A, Cơ quan điều tra chưa có thông tin để xác minh, xử lý 2 đối tượng này, nên Toà không xét.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị Mai A và Lê Văn Đ về tội gây rối trật tự Công cộng theo quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Bị can Nguyễn Thị Mai A hiện đang điều trị tại V1 theo quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh số 09/QĐ-VKS-P3 ngày 10/7/2020 của Viện KSND thành phố H. Bị can Lê Văn Đ hiện đang bàn giao cho V1 để giám định tâm thần theo quyết định trưng cầu giám định tâm thần số 583 ngày 30/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T. Do đó, Cơ quan điều tra quyết định tách hồ sơ tài liệu liên quan đến Nguyễn Thị Mai A, Lê Văn Đ và 2 đối tượng nam chưa xác minh được nhân thân, lai lịch; quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị can Nguyễn Thị Mai A và Lê Văn Đ, Tạm đình chỉ điều tra bị can đối với Nguyễn Thị Mai A và Lê Văn Đ để chờ kết quả giám định xử lý sau nên Toà không xét.

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thanh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: - Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

  • - Các Điều 106; 136; 298; 331; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T 24 tháng tù. nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Thanh T cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ: 01 biển dừng đỗ xe cao khoảng 1m, bề ngang khoảng 40 cm, đã qua sử dụng; và 01 thanh gỗ màu nâu kích thước khoảng 160 cm, dày khoảng 5cm (tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).

Bị cáo Trần Thanh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Nơi nhân

  • - TAND thành phố Hà Nội.
  • - VKSND thành phố Hà Nội
  • - VKSND quận Thanh Xuân.
  • - Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân
  • - UBND xã Nam Tiến, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định
  • - Bị cáo
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HSST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 89/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh T Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger