Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI,

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HS-ST

Ngày 08/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đức Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Như Nghiêm.
  • Bà Nguyễn Thị Kim Khuyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Thuỳ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. PHAN KHẮC Đ

Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 11 tháng 4 năm 2002 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã B, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Phan Khắc D, con bà Hoàng Thị H. Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

2. NGUYỄN VĂN Q

Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 17 tháng 11 năm 2000 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm S, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn N (đã chết), con bà Trần Thị Thu T; Vợ, con: Chưa có. Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết nhau từ trước nên ngày 10/3/2024, Phan Khắc Đ nhờ Nguyễn Văn Q lên thành phố L để đánh nhạc cho đám cưới của anh Phàn Văn N1 (Sinh năm 2003; Trú tại tổ C, phường B, thành phố L), Nguyễn Văn Q đồng ý. Sau khi trao đổi, thống nhất xong, đến khoảng 17 giờ ngày 21/3/2024, Phan Khắc Đ cùng Nguyễn Văn Q đi xe khách từ thành phố T đến thành phố L và được anh Phàn Văn N1 thuê phòng để nghỉ tại nhà nghỉ H1, số nhà A, đường T, tổ D, phường B, thành phố L. Đến khoảng 17 giờ ngày 22/3/2024, Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q cùng đi dự đám cưới của Phàn Văn N1 tại tổ C, phường B, thành phố L. Tại đây, do đã uống nhiều rượu nên Phan Khắc Đ đã nảy sinh ý định sử dụng ma tuý Ketamine, do vậy, Phan Khắc Đ đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 của mình để tìm kiếm trên trang mạng xã hội facebook “Bán đồ Lào Cai” thì phát hiện tài khoản facebook “Đức Bình” nên Phan Khắc Đ đã gửi lời mời kết bạn và được tài khoản này đồng ý, sau đó Phan Khắc Đ gọi điện qua ứng dụng mạng xã hội facebook Messenger để trao đổi với tài khoản này về việc bản thân muốn mua ma tuý Ketamine để sử dụng thì tài khoản này trả lời Phan Khắc Đ: “Để hỏi xem có không đã”. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q đi dự đám cưới xong thì cả hai cùng về nhà nghỉ H1, tổ D, phường B, thành phố L để nghỉ ngơi. Tại đây, Phan Khắc Đ đã nói với Nguyễn Văn Q “Tý sang phòng 201 chơi”, Nguyễn Văn Q hiểu ý Phan Khắc Đ rủ Nguyễn Văn Q sang phòng 201 của Phan Khắc Đ để cùng sử dụng ma tuý nên đồng ý. Sau khi Phan Khắc Đ vào phòng 201 thì người sử dụng tài khoản facebook “Đ” gọi cho Phan Khắc Đ qua ứng dụng mạng xã hội facebook Messenger hỏi Phan Khắc Đ “Muốn lấy bao nhiêu?”, sau khi trao đổi xong thì Phan Khắc Đ đồng ý mua 02 (Hai) chỉ ma tuý Ketamine của người sử dụng tài khoản “Đ” với giá 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng) và hẹn người sử dụng tài khoản facebook “Đức Bình” giao ma tuý tại nhà nghỉ H1, tổ D, phường B, thành phố L. Khoảng 20 phút sau, người sử dụng tài khoản facebook “Đức Bình” gọi điện thoại cho Phan Khắc Đ qua ứng dụng M bảo Phan Khắc Đ đi xuống đối diện nhà nghỉ để lấy ma tuý. Khi xuống tới nơi và đợi khoảng 05 phút thì Phan Khắc Đ nhìn thấy một người nam giới (Hiện chưa xác định được nhân thân) điều khiển xe mô tô đi đến. Thấy vậy, Phan Khắc Đ đưa cho người nam giới này số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), đồng thời người nam giới này đưa lại cho Phan Khắc Đ 02 (Hai) túi nilon, bên trong mỗi gói nilon đều chứa các cục tinh thể rắn, màu trắng, Phan Khắc Đ biết 02 (Hai) túi nilon này chứa ma tuý Ketamine nên cầm 02 (Hai) túi nilon này ở lòng bàn tay phải sau đó đi lên phòng 201 nhà nghỉ H1. Sau khi về đến phòng, Phan Khắc Đ để 02 (Hai) túi ma tuý vừa mua được trên mặt bàn gỗ kê giữa hai giường ngủ và đi vào phòng vệ sinh. Khoảng 23 giờ

ngày 22/3/2024, Nguyễn Văn Q đi sang phòng 201 của Phan Khắc Đ thì phát hiện trên mặt bàn gỗ kê giữa hai giường ngủ có 02 (Hai) túi nilon chứa ma tuý Ketamine, đồng thời lúc này Phan Khắc Đ biết Nguyễn Văn Q đã sang phòng 201 nên từ trong nhà vệ sinh nói vọng ra “Có rồi, anh đi xào đi”, Nguyễn Văn Q hiểu ý Phan Khắc Đ muốn Nguyễn Văn Q xào ma tuý Ketamine được lấy ra từ 02 (Hai) túi nilon để trên mặt bàn gỗ để hai người cùng sử dụng nên Nguyễn Văn Q đã lấy từ trong ví của mình ra 01 (Một) tờ tiền ngoại tệ để trên mặt kệ gỗ, sau đó lấy 01 (Một) túi ma tuý Ketamine đổ hết lên bề mặt của tờ tiền ngoại tệ này và sử dụng bật lửa nghiền mịn ma tuý Ketamine để xào. Sau khi xào xong ma tuý Ketamine, Nguyễn Văn Q sử dụng một tờ tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N3 để cuộn tròn làm tẩu hút ma tuý Ketamine và tự sử dụng một phần ma tuý Ketamine, đối với số ma tuý Ketamine vừa xào nhưng chưa dùng hết, Nguyễn Văn Q để lại trên mặt kệ gỗ phần Phan Khắc Đ. Sau khi đi từ nhà vệ sinh ra, Phan Khắc Đ nhìn thấy Nguyễn Văn Q đang nằm trên giường nghe nhạc, đồng thời nhìn thấy trên mặt kệ gỗ có ma tuý Ketamine đã được xào sẵn trên mặt tờ tiền ngoại tệ nên Phan Khắc Đ biết Nguyễn Văn Q đã xào và sử dụng một phần ma tuý Ketamine, đồng thời Nguyễn Văn Q để phần số ma tuý còn lại cho mình nên Phan Khắc Đ đã tiến đến gần kệ gỗ, sử dụng tờ tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) đã được cuộn tròn để hít ma tuý Ketamine trên mặt tờ tiền ngoại tệ, sau khi sử dụng ma tuý xong, Phan Khắc Đ cất túi nilon chứa ma tuý Ketamine và phần ma tuý Ketamine đã xào nhưng chưa sử dụng hết trên mặt tờ tiền ngoại tệ vào ngăn kéo tủ gỗ giữa hai giường ngủ phòng 201 và bảo với Nguyễn Văn Q muốn gọi nữ nhân viên đến phục vụ nghe nhạc, mát xa cùng, Nguyễn Văn Q đồng ý. Sau đó, Phan Khắc Đ đã sang phòng 203 của Phàn Văn N1 để nhờ gọi giúp 02 (Hai) nhân viên nữ phục vụ, Phàn Văn N1 đồng ý và điều khiển xe mô tô đi đến khu vực đường Q, xã C, thành phố L. Tại đây, Phàn Văn N1 gặp một người nam giới (Hiện chưa xác định được nhân thân) và trao đổi muốn tìm 02 (Hai) nhân viên nữ đến mát xa tại phòng 202, nhà nghỉ H1, tổ D, phường B, thành phố L, người nam giới này đồng ý sau đó trực tiếp gặp, trao đổi với Hoàng Thị L (Sinh năm 2005; Trú tại Bản H, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu) và Vi Thị M1 (Sinh năm 2005; Trú tại thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai), là 02 (Hai) nhân viên quán cafe tại thôn L, xã C, thành phố L, Hoàng Thị L và Vi Thị M1 đồng ý. Sau đó, Hoàng Thị L và Vi Thị M1 cùng đến phòng 202, nhà nghỉ H1, tổ D, phường B, thành phố L. Khi đến nơi, Hoàng Thị L đi cùng Phan Khắc Đ sang phòng 201 còn Vi Thị M1 ở lại phòng 202 cùng Nguyễn Văn Q. Đến khoảng 02 giờ 20 phút ngày 23/3/2023, khi Vi Thị M1 đang ở trong phòng 202 cùng Nguyễn Văn Q, Hoàng Thị L đang ở trong phòng 201 cùng Phan Khắc Đ thì tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố L tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra trước sự chứng kiến của anh Vàng Láo T1 (Sinh năm 2002; Trú tại Bản P, xã M, thị xã S, tỉnh Lào Cai) và ông Vũ Văn T2 (Sinh năm 1970; Trú tại tổ A, phường B, thành phố L), Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q đều khai nhận vừa sử dụng ma tuý Ketamine tại phòng 201 và hiện tại Phan Khắc Đ đang cất giấu ma tuý Ketaimine tại phòng

201. Tại phòng 201 trước sự có mặt của người chứng kiến, Phan Khắc Đ tự giác mở từ trong ngăn kéo của chiếc kệ gỗ kê giữa hai giường ngủ giao nộp 01 (Một) túi nilon loại mép miết, bên trong chứa các cục tinh thể rắn màu trắng và 01 (Một) tờ tiền ngoại tệ (Không rõ quốc gia phát hành), mệnh giá 1000; sêri 1997, mã số hiệu Ub 4402498, trên bề mặt tờ tiền có chất bột khô màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Hồi 14 giờ 30 phút ngày 23/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã tiến hành khám xét khẩn tại phòng 201 nhà nghỉ H1, tổ D, phường B, thành phố L, quá trình khám xét đã phát hiện, thu giữ tại ngăn kéo của kệ gỗ kê giữa hai giường ngủ 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) do Ngân hàng N3 phát hành.

Ngày 23/3/204, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L ban hành quyết định trưng cầu giám định số 473 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh L giám định ma túy đối với vật chứng đã thu giữ của Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q ngày 23/3/2024. Tại bản kết luận giám định số 125/KL - GĐMT ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu M1: 0,796 gam các cục tinh thể rắn, màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Ketamine; Mẫu M2: 0,083 gam chất bột khô màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Ketamine. Tổng cộng số ma tuý còn lại thu giữ ở phòng 201 là 0,879 gam ma tuý Ketamine. Cơ quan giám định đã trích 0,24 gam để tiến hành giám định, còn lại 0,639 gam hoàn trả cơ quan trưng cầu.

Ngày 18/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L ban hành quyết định trưng cầu giám định số 1.027 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh L giám định tài liệu đối với 01 (Một) tờ tiền màu xanh (Không rõ quốc gia phát hành), mệnh giá 1000; sêri 1997, mã số hiệu Ub 4402498. Tại bản kết luận giám định số 33/KL - GĐTL ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Tờ tiền ngoại tệ có sêri 1997, mã số hiệu Ub 4402498 là tiền tệ của Liên Bang N2 (Được phát hành và quản lý bởi Ngân hàng T3), mệnh giá 1000 Rúp. Tờ tiền gửi giám định nêu trên là tiền thật (Bút lục 24, 27 hồ sơ vụ án).

Cáo trạng số 85/CT-VKSTP ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Khắc Đ từ 02 năm 3 tháng đến 02 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều

17, 38, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau trích mẫu; Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước 01 tờ tiền Liên bang N2 mệnh giá 1000 Rúp”, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 VNĐ của Nguyễn Văn Q; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 màu trắng số IMEI 356682976321047 của Phan Khắc Đ là các công cụ, phương tiện mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; Tạm giữ 02 chiếc điện thoại của Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q để đảm bảo thi hành án, tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Do vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 22/3/2024, bị cáo Phan Khắc Đ đã có hành vi cung cấp ma tuý, rủ rê Nguyễn Văn Q cùng sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 201, nhà nghỉ H1, thuộc tổ D, phường B, thành phố L và được Nguyễn Văn Q giúp sức trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị phát hiện. Hành vi của các bị cáo Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, truy tố các bị cáo nêu trên theo quy định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật hình sự, là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn

thành phố L và tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Phan Khắc Đ là người khởi xướng và trực tiếp rủ bị cáo Nguyễn Văn Q cùng thực hiện hành vi phạm tội, là người trực tiếp liên hệ và mua 02 (Hai) túi ma tuý Ketamine của người sử dụng tài khoản facebook “Đ” để cùng sử dụng với Nguyễn Văn Q, đồng thời Phan Khắc Đ cũng là người phân công Nguyễn Văn Q thực hiện hành vi xào ma tuý Ketamine để Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q cùng sử dụng, do vậy, bị cáo Phan Khắc Đ phải là người giữ vai trò chính trong vụ án. Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, sau khi được Phan Khắc Đ rủ cùng thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, Nguyễn Văn Q đã tự nguyện đồng ý tham gia cùng, Nguyễn Văn Q cũng là người trực tiếp sử dụng 01 (Một) tờ tiền ngoại tệ, 01 (Một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N3 để làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội và là người trực tiếp thực hiện việc xào ma tuý Ketamine để Nguyễn Văn Q và Phan Khắc Đ cùng sử dụng, do vậy, Nguyễn Văn Q phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với bị cáo Phan Khắc Đ với vai trò thứ hai trong vụ án.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo sau khi phạm tội đều thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Văn Q còn có ông nội là Nguyễn Hồng Q1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Do vậy bị cáo Q được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật, mặc dù biết rõ pháp luật nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý...nhưng vì đua đòi, muốn sử dụng ma tuý tìm cảm giác lạ, các bị cáo đã không có ý thức chấp hành pháp luật. Vì vậy cần phải có một mức án phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đối với từng bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có tài sản riêng, vì vậy Hội đồng xét xử không phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 (Một) bì thư được tái niêm phong của Phòng K Công an tỉnh L, bên trong đựng 0,639 gam ma tuý Ketamine cùng toàn bộ niêm phong cũ, trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q, Vi Thị M1, Hoàng Thị L tại nhà nghỉ H1, số nhà A, đường T, tổ D, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 23/3/2024”; Xét thấy số ma tuý còn lại sau trích mẫu này thuộc danh mục các chất ma tuý Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 tờ tiền màu xanh mệnh giá 1000; sêri 1997, mã số hiệu Ub 4402498, tại bản kết luận giám định số 33/KL - GĐTL ngày 21/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Tờ tiền ngoại tệ có sêri 1997, mã số hiệu Ub 4402498 là tiền tệ của Liên Bang N2 (Được phát hành và quản lý bởi Ngân hàng T3), mệnh giá 1000 Rúp. Tờ tiền gửi giám định nêu trên là tiền thật được đựng trong 01 (Một) bì thư được tái niêm phong của Phòng K Công an tỉnh L cùng toàn bộ niêm phong cũ, trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi: “Vật chứng sau giám định trong vụ phạm tội về ma tuý, bắt ngày 23/3/2024: 01 tờ tiền Liên bang N2 mệnh giá 1000 Rúp”; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 màu trắng số IMEI 356682976321047 của Phan Khắc Đ, 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N3 (Tạm giữ của Nguyễn Văn Q); Xét thấy đây là các công cụ, phương tiện mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, số IMEI 861438054561410 (Tạm giữ của Phan Khắc Đ); 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu xám số IMEI 356725117029027 của Nguyễn Văn Q cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Riêng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PRO MAX màu xám số IMEI 351999620368199 của Nguyễn Văn Q không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với người đã sử dụng tài khoản facebook “Đức Bình” mà Phan Khắc Đ khai nhận đã bán ma tuý cho Phan Khắc Đ ngày 22/3/2024: Ngày 25/3/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra điện thoại của Phan Khắc Đ, tuy nhiên nội dung lịch sử trò chuyện của Phan Khắc Đ với tài khoản này hiện đã bị xoá, đồng thời ngoài lời khai của Phan Khắc Đ thì không có tài liệu nào khác để chứng minh về nhân thân của người đã sử dụng tài khoản này, do vậy không đủ căn cứ xử lý trong vụ án này.

Đối với anh Phàn Văn N1, chị Hoàng Thị L, chị Vi Thị M1 và người nam giới (Hiện chưa xác định được nhân thân), là người đã gặp Phàn Văn N1, Hoàng Thị L, Vi Thị M1 ngày 22/3/2024 để trao đổi về việc thuê chị Hoàng Thị L và chị Vi Thị M1 đến nhà nghỉ H1 phục vụ Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q: Quá trình điều tra xác định việc Phan Khắc Đ và Nguyễn Văn Q tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng 201, nhà nghỉ H1, tổ D, phường B, thành phố L thì 04 (Bốn) cá nhân trên đều không biết, không tham gia cùng, đồng thời, căn cứ vào các tài liệu hiện có trong hồ sơ thì chưa đủ căn cứ xác định 04 (Bốn) cá nhân

này còn thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác, do vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với 04 (Bốn) cá nhân trên là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Khắc Đ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 23/3/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 23/3/2024.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu huỷ 01 (Một) bì thư được tái niêm phong của Phòng K Công an tỉnh L, bên trong đựng 0,639 gam ma tuý Ketamine cùng toàn bộ niêm phong cũ, trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q, Vi Thị M1, Hoàng Thị L tại nhà nghỉ H1, số nhà A, đường T, tổ D, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 23/3/2024 (mẫu M1)”;
  • - Tịch thu 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 màu trắng số IMEI 356682976321047 (đã qua sử dụng, mặt kính sau bị vỡ) của Phan Khắc Đ, 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) tiền Ngân hàng N3 (Tạm giữ của Nguyễn Văn Q) theo nội dung giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 25/7/2024 để nộp vào ngân sách nhà nước.
  • - Tịch thu 01 tờ tiền màu xanh mệnh giá 1000 rúp; sêri 1997, mã số hiệu Ub 4402498 được niêm phong trong 01 phong bì, trên một mặt của bì niêm phong mới này có ghi: “Tiền tạm giữ trong vụ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 23/3/2024, 01 tờ tiền Liên bang N2 mệnh giá 1000 Rúp”; Xác nhận tờ tiền này cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã bàn giao sang Kho bạc nhà nước Lào Cai theo biên bản giao nhận tài sản ngày 05/8/2024.
  • - Tạm giữ 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, số IMEI 861438054561410 của Phan Khắc Đ; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 PRO MAX màu xám số IMEI 356725117029027 của Nguyễn Văn Q để đảm bảo công tác thi hành án.
  • - Trả lại cho Nguyễn Văn Q 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PRO MAX màu xám số IMEI 351999620368199.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Buộc các bị cáo Phan Khắc Đ, Nguyễn Văn Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh
  • - VKSNDTP;
  • - Đội CSHTTP
  • - Bộ phận QLHS
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADSTP;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Đức Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (criminal case)

  • Số bản án: 89/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Khắc Đ cùng đồng bọn phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger