Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 89/2024/KDTM-ST

Ngày: 03-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Mai
  2. Ông Nguyễn Xuân Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2023/TLST-KDTM ngày 28 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2024/QĐXXST-KDTM ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S

Trụ sở: Lô F đường E, Khu công nghiệp T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Nam T, sinh năm 1984, địa chỉ liên hệ: Lô I đường C, Khu công nghiệp T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Công ty TNHH X

Trụ sở: 3 H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1982, địa chỉ: A P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo pháp luật (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 10 năm 2023 của nguyên đơn Công ty Cổ phần S (sau đây gọi tắt là công ty S) và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Trần Nam T trình bày: Ngày 31/10/2018, Công ty Cổ phần S và Công ty TNHH X (sau đây gọi tắt là công ty X) có ký kết với nhau Hợp đồng kinh tế số 013110/SMC/PKD/HĐ/2018 về việc mua bán bê tông trộn sẵn để xây dựng công trình Khu dân cư T tại xã P, huyện B, tỉnh Long An. Sau khi ký Hợp đồng, Công ty S đã cung cấp sản phẩm bê tông cho Công ty X với tổng giá trị để xây dựng công trình là 58.410.000 (năm mươi tám triệu bốn trăm mười nghìn) đồng, Công ty X đã thanh toán cho công ty S số tiền 31.000.000 (ba mươi mốt triệu) đồng và nợ lại số tiền 27.410.000 (hai mươi bảy triệu bốn trăm mười nghìn) đồng. Theo quy định tại Điều III về Điều khoản thanh toán của Hợp đồng mua bán bê tông trộn sẵn giữa các bên nói trên thì Công ty X có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị cho Công ty S ngay sau khi cấp bê tông (01) ngày. Thực tế Công ty S đã cung cấp bê tông trộn sẵn lần cuối cùng cho Công ty X vào ngày 10/11/2018 tuy nhiên cho đến nay Công ty X vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán mặc dù Công ty S đã nhiều lần liên hệ, thông báo yêu cầu Công ty X thanh toán số tiền trên. Nay nguyên đơn công ty S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty X thanh toán cho Công ty S tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 40.879.950 (Bốn mươi triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm năm mươi) đồng trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 27.410.000 đồng và tiền lãi chậm trả kể từ ngày 18/11/2018 đến ngày 03/5/2024 theo lãi suất 9%/năm là 13.469.950 đồng, yêu cầu thanh toán ngay sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn Công ty X vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn Công ty Cổ phần S có người đại diện hợp pháp là ông Trần Nam T có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn Công ty TNHH X vắng mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

  • Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.
  • Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa.
  • Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

  • Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và lãi chậm thanh toán do vi phạm hợp đồng mua bán bê tông thương phẩm nên quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.
  • Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn có người đại diện hợp pháp là ông Trần Nam T là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt. Bị đơn vắng mặt. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên toà xét xử vụ án nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án có căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 27.410.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ Hợp đồng kinh tế số 013110/SMC/PKD/HĐ/2018 ngày 31/10/2018 giữa nguyên đơn và bị đơn có cơ sở xác nhận giữa nguyên đơn và bị đơn đã giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá. Căn cứ thỏa thuận giữa 2 bên trong hợp đồng thì tất cả đơn giá ghi trên hợp đồng đã bao gồm chi phí vận chuyển và thuế VAT, giá trị hợp đồng sẽ tính theo khối lượng bê tông cung cấp thực tế và đơn giá sẽ được nếu giá nguyên, nhiên vật liệu trên thị trường biến động và được hai bên thống nhất điều chỉnh bằng phụ lục hợp đồng. Bị đơn có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị cho nguyên đơn ngay sau khi cấp bê tông. Căn cứ vào giấy báo có ngày 07/11/2018 của nguyên đơn tại Ngân hàng TMCP Đ có cơ sở xác nhận bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền 31.000.000 đồng. Căn cứ hóa đơn giá trị gia tăng số 0005455 ngày 25/12/2018 có cơ sở xác nhận nguyên đơn đã thực tế cung cấp khối lượng bê tông trộn sẵn cho bị đơn với tổng giá trị là 58.410.000 đồng. Nguyên đơn trình bày bị đơn còn nợ lại số tiền 27.410.000 đồng và không tiếp tục thanh toán mặc dù nhiều lần nhắc nhở, thông báo. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn để làm rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng phía bị đơn đều vắng mặt, không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu khác thể hiện việc đã thanh toán cho nguyên đơn. Như vậy đã có đủ cơ sở xác nhận việc bị đơn đã nhận

đủ hàng hóa theo hợp đồng và không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán đối với nguyên đơn theo quy định tại Điều 50 của Luật Thương mại năm 2005. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở chấp nhận yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 27.410.000 đồng.

[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền lãi do chậm thanh toán theo lãi suất 9%/năm trên số tiền chậm trả đến ngày trả hết nợ, tạm tính từ ngày 18/11/2018 đến ngày 03/5/2024 số tiền là 13.469.950 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại Điều 3 của hợp đồng kinh tế số 013110/SMC/PKD/HĐ/2018 ngày 31/10/2018, hai bên thoả thuận bị đơn có trách nhiệm thanh toán 100% giá trị cho nguyên đơn ngay sau khi cấp bê tông, trường hợp chậm thanh toán thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiền lãi chậm trả theo lãi suất vay của Ngân hàng theo tài khoản của nguyên đơn trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả không vượt quá 7 ngày. Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại 2005, tiền lãi chậm trả được tính theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của 3 ngân hàng công bố tại thời điểm thanh toán. Ngày 10/11/2018 là ngày cuối cùng cấp bê tông, nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán trên số tiền nợ còn lại là 27.410.000 đồng theo lãi suất 9%/năm tính từ ngày 18/11/2018 là có lợi cho bị đơn và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận, buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền lãi 13.469.950 đồng.

Từ những nhận định trên, căn cứ các Điều 24, 50, 301, 306 Luật thương mại 2005, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 40.879.950 (Bốn mươi triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm năm mươi) đồng trong đó bao gồm tiền nợ gốc là 27.410.000 đồng và tiền lãi chậm trả kể từ ngày 18/11/2018 đến ngày 03/5/2024 theo lãi suất 9%/năm là 13.469.950 đồng.

[2.3] Về thời hạn thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần số tiền 40.879.950 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

[3] Về ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh: Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình là đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 144; khoản 1 Điều 147; Điều 207; Điều 227; Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ các Điều 24, 50, 55, 301, 306 Luật Thương mại;
  • Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014);
  • Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần S.

Bị đơn Công ty TNHH X có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ phần S số tiền 40.879.950 (Bốn mươi triệu tám trăm bảy mươi chín nghìn chín trăm năm mươi) đồng để chấm dứt Hợp đồng kinh tế số 013110/SMC/PKD/HĐ/2018 ngày 31/10/2018 giữa Công ty Cổ phần S và Công ty TNHH X. Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày 04/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 9%/năm tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH X phải chịu 3.000.000 (Ba triệu) đồng.

H lại cho Công ty Cổ phần S số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024330 ngày 15/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình ;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Quang Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/KDTM-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 89/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MBHH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger