|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01/7/2024 Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Bà Hà Thị Kim Thu.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Minh T, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Số B khóm A, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Bùi Văn T1, sinh năm: 1994. Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Minh T trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2020, chị và anh Bùi Minh T2 tự quen biết, sau đó tìm hiểu, yêu thương nhau, tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 09/3/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về sinh sống tại tổ A, ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang được ít hôm, sau đó vợ chồng lên Thành phố Hồ Chí Minh làm ăn, tiếp đến dịch Covid-19 bùng phát, nên vợ chồng về sinh sống tại nhà đất thuộc ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang do mẹ ruột chị mua, sau khi bớt dịch thì trở lại Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, nhưng mỗi năm vẫn về nhà vài lần.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2022 giữa chị và anh T2 phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường hay cự cãi và vợ chồng đã ly thân từ tháng 06/2023 cho đến nay. Vì các lý do trên, chị nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục cuộc sống như thế này được nữa, chị muốn chấm dứt cuộc hôn nhân này để mỗi người có cuộc sống mới tốt hơn, nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Bùi Văn T1.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị và anh T1 có một người con chung tên Bùi Lê Minh C, sinh ngày 02/01/2021. Hiện nay, con đang sinh sống với chị. Nên khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị T xác nhận quá trình chung sống giữa chị và anh T1 không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn anh Bùi Văn T1 trình bày:
Anh thống nhất lời trình bày của chị T về hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và mâu thuẫn dẫn đến yêu cầu xin ly hôn giữa vợ chồng anh chị là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị T, anh có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh đồng ý ly hôn với chị Lê Minh T.
- Về quan hệ con chung: Anh đồng ý giao con tên Bùi Lê Minh C, sinh ngày 02/01/2021 cho chị Lê Minh T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Anh không cấp dưỡng nuôi con. Nhưng chị T phải tạo điều kiện cho anh đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con trong thời gian hợp lý.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh thống nhất với việc chị T trình bày là giữa anh và chị T không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện chị Lê Minh T yêu cầu được ly hôn và nuôi con với anh Bùi Văn T1. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn anh Bùi Văn T1 có nơi cư trú tại tổ A, ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lê Minh T, bị đơn anh Lê Minh T3 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Chị Lê Minh T và anh Bùi Minh T2 tự quen biết, sau đó tìm hiểu, yêu thương nhau, tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được UBND xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 33, ngày 09/3/2021. Như vậy, hôn nhân giữa chị T và anh T2 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị T về việc xin ly hôn với anh T2 thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa chị và anh T2 có phát sinh mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, vợ chồng thường hay cự cãi và vợ chồng đã ly thân từ tháng 06/2023 cho đến nay. Chị T cũng xác định trong thời gian chị và anh T2 sống ly thân với nhau, thì giữa chị và anh T2 không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa, cũng không thực hiện quyền và nghĩa vụ chung của vợ chồng.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành giải thích pháp luật và động viên để hai bên đoàn tụ gia đình, nhưng chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với anh T2. Đồng thời, anh T2 cũng có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T.
Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T2 đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị T yêu cầu được ly hôn với anh T2 là có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho chị Lê Minh T được ly hôn với anh Bùi Văn T1.
[3.2] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, chị T và anh T1 có một người con chung tên Bùi Lê Minh C, sinh ngày 02/01/2021. Hiện chị T đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì vậy, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành.
HĐXX xét thấy, từ khi chị T và anh T1 sống ly thân với nhau cho đến nay, thì chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu C và hiện cháu phát triển bình thường. Vì vậy, để đảm bảo ổn định cuộc sống và nhằm giúp cháu C phát triển tốt về mọi mặt, nên tiếp tục giao cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu C đến tuổi trưởng thành là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không giải quyết.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh T1 xác nhận giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì chị Lê Minh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Minh T được ly hôn với anh Bùi Văn T1.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu tên Bùi Lê Minh C, sinh ngày 02/01/2021 cho chị Lê Minh T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Lê Minh T nuôi con; anh Bùi Văn T1 được quyền đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Minh T và anh Bùi Văn T1 xác định anh chị không tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Lê Minh T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001097 ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Chị Lê Minh T không phải nộp thêm.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh Th kiện Bùi Văn Th
