|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-HẢI PHÒNG Bản án số: 89/2025/HS-ST Ngày: 30/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trọng Bộ và ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2025; Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng mở phiên tòa công khai tại trụ sở để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 75/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/QĐXXST-HS ngày 18/12/2025 đối với bị cáo:
TRIỆU THỊ THU L, sinh ngày 22/5/1995. Căn cước công dân số [...]; cấp ngày 05/3/2024; nơi cấp: Cục QLHC về TTXH-Bộ C3. Nơi đăng ký cư trú: Thôn C, xã B, tỉnh Thái Nguyên. Chỗ ở hiện nay: Phòng trọ số E, nhà số B M, phường K, thành phố Hải Phòng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12. Con ông: Triệu Văn T, sinh năm 1969; Con bà: Triệu Thị H, sinh năm 1972. Chồng là: Vũ Minh C, sinh năm 1995; có 01 con sinh ngày 21/4/2025. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 02/7/2025 đến ngày 04/7/2025 được Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn do đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và áp dụng Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.
- * Người làm chứng: Nguyễn Văn Đ, Đinh Văn P.
- * Người chứng kiến: Nguyễn Văn B.
(Bị cáo có mặt; những người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 5 năm 2025, Triệu Thị Thu L thuê phòng trọ số E số nhà B M, phường K, thành phố Hải Phòng của ông Nguyễn Văn T1 để ở. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 30/06/2025, L sử dụng điện thoại di động Iphone 12 màu xám gọi điện qua Zalo có chữ Trung Quốc của L đến Z có tên “Quang Thuỳ” của T2 (người quen xã hội, L không biết họ tên đệm, tuổi, địa chỉ của T2), hỏi mua ma tuý đá của T2 để sử dụng và bán kiếm lời. Sau đó T2 đến phòng trọ của L đưa cho L 01 túi nilon kích thước khoảng (5x8)cm bên trong chứa 10 gam ma túy đá và bảo L khi nào bán được T2 sẽ tính tiền. Khi T2 về thì L chia một phần số ma túy trên ra thành 05 túi nilon kích thước mỗi túi khoảng (1,5x2)cm để bán với giá 300.000 đồng/túi, số ma túy còn lại L vẫn để trong túi nilon kích thước khoảng (5x8)cm. Tối 30/06/2025, T2 đến phòng trọ bảo L là có Công an vào, L hoảng sợ đã cầm túi nilon kích thước khoảng (5x8)cm chứa ma túy đổ hết ma tuý vào bồn cầu rồi xả nước, sau đó Thủy mở cửa ra xem nhưng không phải Công an, T2 bỏ về. Khoảng 2 giờ ngày 01/7/2025, có Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố M, phường N, thành phố Hải Phòng dùng tài khoản Zalo “Đ” liên lạc, hỏi mua của L 05 túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng/túi để sử dụng, L đồng ý. Tại phòng trọ của L, L đưa cho Đ 05 túi ma tuý đá kích thước khoảng (1,5x2) cm nhưng Đ chưa trả L tiền. Khoảng 12 giờ ngày 01/07/2025, T2 đến phòng trọ của L đưa cho L 01 túi nilon kích thước khoảng (5x8)cm chứa 04 gam ma túy đá và bảo cho L số ma túy này bù vào số ma túy hôm qua L đổ đi rồi T2 đi về. Lệ cầm túi ma túy, chia một phần ma túy vào 07 túi nilon kích thước mỗi túi khoảng (1,5x2)cm để bán với giá 300.000 đồng, 03 túi nilon kích thước mỗi túi khoảng (3x3)cm để bán với giá 800.000 đồng, số ma túy còn lại L vẫn để trong túi nilon kích thước khoảng (5x8)cm T2 đưa cho trước đó. Sau đó L cất 02 túi nilon kích thước khoảng (3x3)cm vào lọ nhựa hình trụ tròn có sẵn tại nhà rồi để các túi ma tuý trên vào túi xách. Tối ngày 01/7/2025, L bỏ ra một ít ma túy đá trong 01 túi nilon kích thước khoảng (1,5x2)cm sử dụng tại phòng trọ. Khoảng 9 giờ ngày 02/7/2025, Đ tiếp tục đến phòng trọ của L hỏi mua 05 túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng/túi, L đồng ý đưa cho Đ 05 túi ma tuý đá kích thước khoảng (1,5x2)cm, Đ trả L 1.500.000 đồng, số ma tuý đá mua được của L, Đ mang về nhà sử dụng hết. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố H phối hợp với Công an phường K, thành phố Hải Phòng đến kiểm tra hành chính, L tự nguyện giao nộp 01 túi xách bên trong có 02 túi nilon, kích thước mỗi túi khoảng (1,5x2)cm, 01 túi nilon kích thước khoảng (3x3)cm, 01 túi nilon kích thước khoảng (5x8)cm, bên trong mỗi túi đều chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong ghi mẫu số 1), 01 lọ nhựa hình trụ tròn trong có 02 túi nilon kích thước khoảng (3x3)cm đều chứa tinh thể màu trắng (được niêm phong ghi mẫu số 2); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone có số IMEI1 359237637228, IMEI2: 359237638835327 kèm theo 01 sim có số ICCID: 89840480009280465249 đã qua sử dụng; 10 vỏ túi nilon kích thước khoảng (1,5x2)cm. L khai nhận tinh thể màu trắng trên là ma tuý đá, L cất giấu để bán cho người khác kiếm lời, tổ công tác lập biên bản quả tang và thu giữ các vật chứng nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10-Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ; Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2025/HS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1-Hải Phòng cùng các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2 Điều và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
* Tuyên bố: Bị cáo Triệu Thị Thu L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Áp dụng hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Triệu Thị Thu L 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù; được trừ 03 ngày tạm giữ, bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 07 (bảy) năm 05 (năm) tháng 27 (hai mươi bẩy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành bản án.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Cấm xuất cảnh” đối với bị cáo sau khi xét xử sơ thẩm.
3. Xử lý vật chứng: ...
4. Án phí: Bị cáo Triệu Thị Thu L phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
|
* Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Chu Văn Nghĩa |
Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 30/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 89/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 10-Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Triệu Thị Thu L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
