TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 89/2025/HS-ST Ngày: 27 - 6 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Thái Hà;
- Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành
- Ông Nguyễn Hữu Hòa
- - Thư ký phiên toà: Trần Thị Hồng Nhung - Thư ký TAND tỉnh Nam Định.
- - Đại diện Viện KSND tỉnh N tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn N - Kiểm sát viên.
Ngày 27 - 6 - 2025 tại trụ sở TAND tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HS ngày tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Đức Quang A; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28/6/1991, tại tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT, nơi ở: Số F đường Đ, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12 Nghề nghiệp: Tự do; Họ và tên bố: Nguyễn Đức K, sinh năm 1959; Họ và tên mẹ: Lê Thị Thanh H, sinh năm 1967, hiện đang cư trú tại địa chỉ: phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/6/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 04 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản”.
Bị cáo bị bắt truy nã tạm giữ kể từ ngày 24/4/2025, đến ngày 27/4/2025 áp dụng biện pháp tạm. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Đức T, sinh năm: 1992, trú tại: Thôn Đ, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định có bạn là Mai Trung Q, sinh năm: 1999, trú tại: Thôn Đ, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định. Ngày 26/4/2024, T biết Q có mối quan hệ với Trần Đức H1, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định đang làm nhân viên Bệnh viện phụ sản tỉnh N nên T nhờ Q mời H1 uống bia, Q đồng ý. Sau đó Q gọi điện hẹn H1 chiều ngày 27/4/2024 đến cửa hàng “đồ nhựa ốp tường” ở xóm F, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định do anh Trần Tiến H2, sinh năm: 1982, trú tại: Xóm F, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định thuê mở cửa hàng để uống bia với Q. H1 đồng ý.
Khoảng 17 giờ ngày 27/4/2024, Q gọi điện cho anh H2 hỏi mượn chìa khóa cửa hàng ở xóm F, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định, rồi Q tiếp tục gọi cho Mai Đức C, sinh năm: 2000, trú tại: Thôn Đ, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định đến cửa hàng của anh H2 để dọn dẹp, chuẩn bị thức ăn trước. Cùng thời điểm này, T gọi điện rủ: Trần Quang V, sinh năm: 1987, trú tại: thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nguyễn Đức Quang A, sinh năm: 1991, trú tại: Số F đường Đ, phường C, thành phố N; Phạm Thị Ánh T1, sinh năm: 1993, trú tại: Số F đường Đ, phường C, thành phố N (là bạn gái Quang A) và Đỗ Hữu D, sinh năm: 1990, trú tại: Thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định (làm nghề lái xe taxi) cùng đến cửa hàng của anh H2 để ăn uống.
Khoảng 18 giờ 00 cùng ngày, T cùng Trần Thị H3, sinh năm: 1982, trú tại: Số 1 đường T, phường Q, thành phố N đi mua thức ăn mang đến cửa hàng của anh H2, rồi mọi người lần lượt đi đến như sau: Quyết, C, Quang A, T1, D. Khoảng 15 phút sau, Q gọi điện cho H1 đến cửa hàng anh H2 để uống bia cùng mọi người. Trong lúc uống bia, D nhận được điện thoại của V nhờ D đi rút hộ 200.000.000đ, số tiền này được Trần Văn H4, sinh năm: 1987, trú tại: xóm Đ, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định (là em họ của V) chuyển đến số tài khoản MB bank I của D. Sau đó D đi rút tiền và đưa cho V tại ngã tư Đ, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, H1 đến cửa hàng của anh H2 thì gặp: T, H3, Q, C, Quang A, T1 đang uống bia. H1 vào ăn uống cùng mọi người được khoảng 15 phút thì anh H2 (chủ nhà) đi đá bóng về vào uống bia cùng mọi người. Cùng thời điểm này Trần Duy H5, sinh năm: 1978, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình gặp V tại khu vực cầu V, xã M, thành phố N thì được V rủ cùng đến cửa hàng của anh H2 để uống bia. Sau đó V cùng H5 đi đến nhà anh H2, một lúc sau D lái xe taxi đến vào ăn, uống cùng mọi người. Anh H2 ngồi uống bia với nhóm của T được một lúc rồi sau đó đi về.
Khoảng 21 giờ 30 phút, cả nhóm ăn nhậu xong, T rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh “ba cây” được thua bằng tiền, người thắng sẽ bỏ tiền mời mọi người đi hát karaoke. Cả nhóm dọn mâm bát sau đó ngồi ngay tại đó để đánh bạc. Võ lấy bộ bài tú lơ khơ 52 lá có sẵn trong phòng, bỏ các lá bài 10, J, Q, K còn lại 36 lá bài để đánh “ba cây”. Mỗi người được chia 03 lá bài, cộng điểm, lấy 10 điểm là cao nhất để so sánh điểm với bài của “người làm chương”, số tiền đánh bạc ít nhất là 100.000đ/1ván (gọi là trống cửa), không quy định mức đặt tiền cao nhất là bao nhiêu. Bài nào 10 điểm thì được nhân đôi số tiền đã đặt cược, nếu người làm chương được 10 điểm thì mọi người phải trả gấp đôi số tiền đã đặt cược ban đầu cho người làm chương. Lúc đầu tham gia đánh bạc có: T, T1, V, Quang A, H5, mọi người chơi được khoảng 05 phút, thì T1 rủ H1 tham gia chơi cùng. H1 đồng ý và bỏ 500.000đ ngồi cạnh T1, đánh bạc chung bài với T1. Q ngồi sau H5 đánh bạc với mọi người và đánh ké cửa qua bài của H5, D ngồi sau T đánh bạc với mọi người và đánh ké cửa qua bài của T.
Số tiền các đối tượng trên sử dụng để đánh bạc ngay từ khi bắt đầu chơi cụ thể như sau:
T có 3.500.000 đồng; T1 có 2.000.000 đồng; V có 50.000.000 đồng; Quang A có khoảng 3.000.000 đồng; H5 có 9.000.000 đồng; H1 có 500.000 đồng; Q có 12.000.000 đồng (trong đó vay T 2.000.000đ trước khi đánh bạc và vay Võ 10.000.000đ trong khi đánh bạc); D có 500.000 đồng. Tổng cộng là: 80.500.000 đồng.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Q thua hết tiền nên đi về trước, D cũng đi về sau đó. H5 đánh bạc thắng được khoảng 600.000đ, đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì đi về.
Trong lúc đánh bạc, T, T1 và H1, V, Quang A, H5 nâng dần mức đặt cược mỗi ván từ 5.000.000₫ - 10.000.000đ. T1 và H1 chơi có lúc thắng, nhưng sau đó bị thua nên đã vay tiền của T từ 10.000.000đ đến 20.000.000đ. Sau đó thì T không cho T1 và H1 vay tiền mặt nữa mà thống nhất: nếu ván nào T bị “thua” thì sẽ trừ tiền nợ, còn nếu “thắng” thì sẽ cộng tiếp số tiền đó vào số tiền T1 và H1 đang nợ cũ. Cả nhóm đánh bạc đến khi tổng số tiền T1 và H1 nợ T là 1.000.000.000đ thì T1 không đánh bạc nữa, H1 và T1 thống nhất với T: mỗi người nợ T 500.000.000đ tiền đánh bạc thua. Sau đó H1 tiếp tục đánh bạc cùng T, V, Quang A, H5. Lúc này H1 đánh bạc vẫn tiếp tục thua và nợ thêm T số tiền 250.000.000₫.
Khoảng 01 giờ ngày 28/4/2024, mọi người dừng chơi, không đánh bạc nữa và H1 chốt tổng số tiền đánh bạc H1 thua và nợ T là 750.000.000đ. Sau đó T đã gọi điện cho anh H2, nhờ anh H2 đến cửa hàng chở mọi người đi hát tại quán karaoke Sông H trên đê H thuộc địa phận tỉnh Hà Nam. Khi đến nơi, do không còn phòng hát nên tất cả đi về.
Anh Trần Đức H1 sau khi về nhà, nghi ngờ trong quá trình chơi bạc đã bị T và nhóm đối tượng cho chất hướng thần vào đồ ăn, nước uống để chơi “cờ bạc bịp”. Đến sáng ngày 28/4/2024, H1 đã tự đến Bệnh viện Đ - Nam Định xét nghiệm nước tiểu để tìm chất ma túy, kết quả: Thành phần nước tiều dương tính với MET (thành phần ma túy đá).
Ngày 02/5/2024, anh H1 đã đến Công an xã M trình báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện M (nay là thành phố N) đã thụ lý giải quyết tin báo, tiến hành các hoạt động khám nghiệm hiện trường, thu thập các tài liệu để làm rõ vụ việc. Ngày 01/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N tiếp tục xác minh làm rõ.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiến hành điều tra làm rõ hành vi đánh bạc của các đối tượng Trần Đức H1, Trần Đức T, Trần Quang V, Mai Trung Q, Nguyễn Thị Ánh T2, Đỗ Hữu D, Trần Duy H5, Nguyễn Đức Quang A đúng như nội dung vụ án đã nêu trên. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Đức Quang A đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 24/4/2025 bị bắt theo Quyết định truy nã. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Đức Quang A đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các đối tượng khác trong vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra.
Bản Cáo trạng số 62/CTr-VKSNÐ-P2 ngày 16 - 6 -2025 của Viện KSND tỉnh N đã Truy tố bị cáo Nguyễn Đức Quang A về tội “Đánh bạc” theo điểm c, khoản 2, Điều 321 BLHS.
Tại phiên toà: Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung kết luận điều tra, xác định việc truy tố của Viện KSND tỉnh N đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan.
Đại diện Viện KSND tỉnh N vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng và quyết định truy tố đối với các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng nêu trên và đề nghị HĐXX:
- -Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Quang A phạm tội “Đánh bạc”.
- - Áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 321; Điều 17; Điều 38, Điều 58, điểm s Khoản 1, Điều 51; xử phạt bị cáo từ 36 - 42 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2025.
- - Hình phạt bổ sung: Áp dung khoản 3 Điều 321 BLHS phạt tiền đối với bị cáo 10.000.000đồng sung ngân sách nhà nước.
- - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1, Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS đề nghị truy thu sung ngân sách nhà nước nhà nước: 3000.000đồng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về cùng gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND tỉnh Nam Định:
Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan CSĐT, VKSND tỉnh Nam Định đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án đều hợp pháp.
Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ lưu trong hồ sơ vụ án nên sự vắng mặt của Người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử, vì vậy HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 293 của BLTTHS.
[2] Về quan điểm của Đại diện VKS, các bị cáo tại phần thủ tục tranh tụng:
HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng. Quan điểm tranh tụng của các bên đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án.
Quan điểm của Đại diện VKS về việc đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án - HĐXX thấy đã có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27/4/2024, tại xóm F, xã M, thành phố N, Nguyễn Đức Quang A đã sử dụng số tiền 3.000.000 đồng tham gia đánh bạc bằng hình thức 03 cây được thua bằng tiền với các đối tượng Trần Đức T, Phạm Thị Ánh T1, Trần Đức H1, Trần Quang V, Mai Trung Q, Trần Duy H5, Đỗ Hữu D. Các đối tượng chơi đến khoảng 01 giờ ngày 28/4/2024 thì nghỉ. Kết quả điều tra đã xác định Nguyễn Đức Quang A cùng các đối tượng trên đã sử dụng số tiền 1.330.500.000 đồng để đánh bạc.
Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản ghi lời khai người làm chứng; Biên bản ghi lời khai của các bị cáo khác trong vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên - HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận:
Hành vi của bị cáo Nguyễn Đức Quang A đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại các điểm b khoản 2, Điều 321 BLHS.
Do vậy, việc VKSND tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo có tên nêu trên tại bản Cáo trạng số 62/CTr-VKSNÐ-P2 ngày 16- 6 - 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức Quang A không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Khi quyết định hình phạt, HĐXX thấy cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với các bị cáo để vừa thể hiện nguyên tắc công bằng, nhân đạo của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
Về hình phạt: Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo đã gây ra, xét nhân thân của HĐXX thấy: Bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền lớn, sau khi phạm tội đã bỏ trốn, gây khó khăn cho việc điều tra giải quyết vụ án nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tác dụng giáo dục phòng ngừa chung tình hình tội phạm.
[6] Về hình phạt bổ sung: HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Vật chứng của vụ án và các đồ vật đã thu giữ: Quá trình bắt giữ Nguyễn Đức Quang A đã tạm giữ một chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH màu trắng, biển số 90B2- 998.50 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax đã qua sử dụng.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã xác minh làm rõ chiếc xe máy và điện thoại nhãn hiệu Iphone là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Đức K (là bố đẻ của Nguyễn Đức Quang A), khi Quang A về nhà đã mượn của ông để sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội của Quang A, do đó Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Đức K.
Xét thấy việc xử lý vật chứng của Cơ quang CSĐT Công an tỉnh N là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Số tiền 3.000.000 đồng Nguyễn Đức Quang A sử dụng vào việc đánh bạc, cần tịch thu theo quy định của pháp luật.
HĐXX thấy là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với việc anh Trần Đức H1 tố giác các đối tượng đã có hành vi sử dụng chất hướng thần để chơi cờ bạc bịp: Trong quá trình điều tra không có tài liệu nào khác ngoài lời khai của H1; kết quả giám định độc chất không tìm thấy các chất ma túy đã thu giữ tại phòng trọ của H2 trong mẫu máu của Trần Đức H1; do đó không có căn cứ để xử lý.
- Đối với Trần Đức T, Phạm Thị Ánh T1, Trần Đức H1, Trần Quang V, Mai Trung Q, Trần Duy H5, Đỗ Hữu D đã bị đưa ra xét xử
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức Quang A phạm tội “Đánh bạc”
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 321; Điều 38, Điều 58; điểm s khoản 1Điều 51 BLHS:
Xử phạt Nguyễn Đức Quang A 42 (Bốn hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/4/2025.
- Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tuyên: Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với Nguyễn Đức Quang A: 3000.000 đồng.
Áp dụng khoản 3 Điều 321 phạt tiền đối với Nguyễn Đức Quang A 10.000.000 đồng sung ngân sách Nhà nước
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Đức Quang A phải nộp 200.000 đồng.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thái Hà |
Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 89/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức QA - Đánh bạc
