Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 89/2025/HS-ST

Ngày: 26 - 5 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu

Bà Nguyễn Thị Túy Phượng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Văn H, sinh năm 1987, tại: Sóc Trăng; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 01/11/2023; Nơi thường trú: Ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: bảo vệ; trình độ văn hóa (học vấn) 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quang T và bà Dương Thị Thanh H1; bị cáo có vợ, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 14/11/2018, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Bản án số 234/2018/HS-ST ngày 14/11/2018, chấp hành xong ngày 22/4/2020.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/10/2024, có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng:

Bị hại: Công ty TNHH N1 (Việt Nam), địa chỉ: Đường B, KCN Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Trịnh Phương N, sinh năm 1983; địa chỉ: 1 Đ, khu phố H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kiêm Đi là công nhân của Công ty TNHH N1 (Việt Nam), địa chỉ: đường B, khu công nghiệp Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương và Đặng Văn H là nhân viên bảo vệ của Công ty D được phân công bảo vệ mục tiêu tại Công ty TNHH N1 (Việt Nam). Trong quá trình làm việc tại Công ty N1, Kiêm Đi phát hiện trong nhà kho phế liệu của Công ty có để nhiều bao tải chứa đồng phế liệu nên này sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài.

Thực hiện ý định, K Đi rủ Đặng Văn H cùng tham gia để lấy trộm đồng phế liệu của Công ty M đi bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì H đồng ý. Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/8/2023, H trực bảo vệ tại cổng Công ty N1 thì H lấy cây chổi quét mạng nhện đẩy mắt camera tại khu vực cổng Công ty lệch lên trên nhằm mục đích che giấu hành vi phạm tội. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi công nhân ra về hết, K Đi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 83P4-190.38 chạy đến Công ty TNHH N1 (Việt Nam) và được H đang trực bảo vệ mở cửa cổng cho Kiêm Đ chạy vào nhà kho rồi lén lút lấy 01 bao chứa đồng phế liệu để lên xe rồi chạy ra ngoài. Kiêm Đ điều khiển xe mô tô đi đến đường N thuộc phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thì gặp một người phụ nữ đi mua phế liệu dạo trên đường nên bán 25kg đồng phế liệu vừa trộm được cho người phụ nữ này được 2.500.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 30 cùng ngày, H đi đến phòng trọ của K Đi tại địa chỉ: đường B, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương và được K Đi chia cho H số tiền 1.200.000 đồng, K Đi giữ 1.300.000 đồng rồi cả hai tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 14/8/2023, bà Trịnh Phương N là nhân viên của Công ty TNHH N1 kiểm tra phát hiện camera tại khu vực cổng Công ty bị lệch góc quay nên nghi vấn mời H làm việc. Qua làm việc, H thừa nhận đã cùng với K Đi lấy trộm 25kg đồng phế liệu tại kho phế liệu của công ty để bán lấy tiền tiêu xài nên bà N trình báo đến Đồn Công an khu công nghiệp Đ tiếp nhận, xử lý.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đỏ đen, biển số: 83P4-190.38, số khung: RLHCU0610GY386440, số máy: G3D4E405546.

Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản ngày 19/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận 25 (hai mươi lăm) kg phế liệu đồng có trị giá 2.750.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 63/CT-VKS - TA ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

- Đại diện viện kiểm sát trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và đối chiếu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Đặng Văn H mức hình phạt từ 07 tháng đến 10 tháng tù.

Quá trình điều tra, Kiêm Đ đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tách vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can và Quyết định truy nã đối với bị can Kiêm Đ, khi bắt được sẽ xử lý sau.

Xử lý vật chứng:

Đối với 25kg phế liệu đồng là tài sản thuộc quyền sở hữu của công ty TNHH N1 (Việt Nam), quá trình điều tra không thu hồi được nên không có cơ sở để xử lý. Bà Trịnh Phương N là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty N1 không yêu cầu Đặng Văn H và K Đi phải bồi thường thiệt hại nên không xem xét. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter, biển số 83P4-190.38, số khung: RLHCU0610GY386440, số máy: G3D4E405546 là phương tiện do Kiêm Đ sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra xác định do ông Huỳnh Thanh H2 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xác minh nhưng chưa làm việc được với ông H2, đồng thời bị can Kiêm Đ đã bỏ trốn nên chưa làm việc làm rõ nguồn gốc đối với xe mô tô trên nên cần tiếp tục giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, xử lý sau.

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo thể hiện sự ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xin cho bị cáo được hưởng án nhẹ nhất để có điều kiện đi làm vì gia đình có hoàn cảnh quá khó khăn.

- Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn xin vắng mặt đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đại diện hợp pháp của bị hại có yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét thấy đây là yêu cầu tự nguyện của đại diện bị hại. Việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử và phù hợp với Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn H khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện bị hại, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Ngày 13/8/2023 tại Công ty TNHH N1 (Việt Nam), Đặng Văn H cùng đồng phạm có hành vi lén lút chiếm đoạt 25kg phế liệu đồng của Công ty TNHH N2 để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo H đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội, gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng, bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lợi ích cá nhân bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 14/11/2018, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo Bản án số 234/2018/HS-ST. Sau khi chấp hành xong hình phạt, trở về hòa nhập xã hội và có công việc làm bảo vệ nhưng bị cáo không quyết tâm sửa đổi, tu chí làm ăn mà tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Đối chiếu với mức hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[8] Đối với đối tượng K Đi quá trình điều tra đã bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tách vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can và Quyết định truy nã đối với bị can Kiêm Đi khi bắt được sẽ xử lý sau.

[9] Về trách nhiệm dân sự, vật chứng: Đối với tài sản bị chiếm đoạt là tài sản của Công ty TNHH N1 không thể thu hồi do bị cáo đã bán. Đại diện của bị hại không có yêu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter, biển số 83P4-190.38, số khung: RLHCU0610GY386440, số máy: G3D4E405546 là phương tiện do Kiêm Đ sử dụng thực hiện hành vi phạm tội. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần giao xe mô tô trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • - Điều 47, 48, 136, 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn H 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét.

4. Về xử lý vật chứng: Giao 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: Yamaha, số loại: Exciter, biển số 83P4-190.38, số khung: RLCUG0610GY386440, số máy: G3D4E405546 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, xử lý sau.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An ngày 27/3/2025).

5. Về án phí: Bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, THAHS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hoa Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 89/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐANG VAN HIEU TROM TAI SAN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger