|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2025/HS-ST Ngày 26-5-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Khắc Tân
Bà Hà Thị Nga
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Ông Trần Tuấn Anh, Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 5 năm 2025 Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 57/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 354/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Hà Thị T, sinh ngày 21 tháng 3 năm 1958 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số H N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1 (đều đã chết); có chồng: Lại Đăng T2 (đã chết), chồng 2: Bùi Quang D (đã ly hôn) và 03 con; tiền án: Tại Bản án số 153/2010/HSST ngày 24/11/2010, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 54 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2015 và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/3/2011, chấp hành xong tiền phạt và lãi xuất ngày 20/12/2024, nên chưa được xóa án tích); về nhân thân bị cáo có 03 tiền án đã xoá: Tại Bản án số 50/HSST ngày 19/6/1974, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, 12 tháng thử thách về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 666/2001/HSST ngày 20/12/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội Chứa mại dâm; tại Bản án số 151/2019/HSST ngày 18/10/2019, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Bị cáo có 03 tiền sự đến nay đã hết thời hạn: Ngày 16/8/1972 Công an quận N về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; ngày 05/4/1974 Công an quận L bắt về hành vi Buôn bán hàng cấm; ngày 15/10/2010 Công an quận L bắt về hành vi Đầu cơ. Bị bắt tạm giữ ngày 08/10/2024, tạm giam ngày 16/10/2024; có mặt.
2. Lương Xuân L, sinh ngày 22 tháng 02 năm 1982 tại Hải Phòng. Địa chỉ nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân K và bà Phạm Thị H; có vợ: Phạm Thị T3 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 08/10/2024, tạm giam ngày 16/10/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/10/2024, Hà Thị T đến khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy Heroine để về bán lại kiếm lời. Tại đây, T gặp và mua của 01 nam giới không quen biết 1.500.000 đồng tiền ma túy được 01 túi nilon màu trắng chứa ma túy Heroine. T mang túi ma túy Heroine này về nhà chia nhỏ ra các mảnh giấy vở học sinh đã cắt sẵn ở nhà rồi gói lại thành từng gói ma túy nhỏ. Các gói giấy chứa ma túy và túi nilon chứa ma túy còn lại đều cất trong túi áo khoác để ở tủ quần áo. Đến sáng ngày 07/10/2024, khi T đang ở nhà số H N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng thì Lương Xuân L đến nhà hỏi mua 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. T đồng ý, nhận tiền rồi đưa lại cho L 01 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy vở học sinh, L nhận gói ma túy trên mang đi sử dụng hết.
Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, L tiếp tục gọi điện cho T hỏi mua ma túy, T đồng ý. Lăng điều khiển xe môtô biển kiểm soát: 16M9-6905 đến nhà T ở số H N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng gặp T, mua 02 gói ma túy Heroine với giá 400.000 đồng. Sau khi mua, L cất 02 gói ma túy trên vào trong túi áo chống nắng bên trái đang mặc rồi điều khiển xe đi về đến khu vực trước cửa nhà số F N, phường V, quận L thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an quận L, kiểm tra, thu giữ trong túi áo chống nắng bên trái L đang mặc 02 gói giấy màu trắng dạng giấy vở học sinh, bên trong cả 02 gói giấy đều chứa chất bột màu trắng dạng cục nghi là ma túy Heroine. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của L 01 xe môtô biển kiểm soát: 16M9-6905; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia dạng bàn phím màu xanh đã qua sử dụng và số tiền 597.000 đồng. Sau đó, Tổ công tác đã đưa L về trụ sở Công an quận L, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Sau khi bán ma túy cho L, đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, T nhận được điện thoại của 01 nam giới tên là T4 hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy Heroine. T đồng ý và hẹn giao dịch ở khu vực chợ Đ1, phường N, quận L. Theo thỏa thuận, T mang túi nilon chứa ma túy Heroine gói trong mảnh nilon màu đen, buộc nịt màu vàng bên ngoài, rồi giấu gói nilon chứa túi ma túy này vào trong chiếc dép chân bên phải T đang đi để bán cho T4, 01 gói giấy chứa ma túy Heroine khác, T cất giữ trong túi quần phía trước bên trái T đang mặc để bán khi có khách hỏi mua. T nhờ và nói với cháu ngoại là Mai Tuấn K1, sinh năm 2009; nơi thường trú: Số A Chợ H, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, nơi ở hiện tại: Số H N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng chở đi tiêm. Khi T và K1 đi đến khu vực đầu cổng phía Đông - Chợ Đ, quận L, thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an quận L, kiểm tra, thu giữ của T số ma túy cất giấu trong dép (Mẫu QT1) và trong túi quần (Mẫu QT2) như nêu trên. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của T số tiền 4.600.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh và 01 điện thoại Masstel bàn phím màu đen; thu giữ của Mai Tuấn K1 01 điện thoại di động Iphone và xe máy điện biển kiểm soát: 15MĐ8-00417. Sau đó, lực lượng Công an đã đưa T và K1 cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Ngày 08/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đưa L đi xác định ngôi nhà đã mua ma túy. Kết quả L đã xác định được là nhà số H N, phường V, quận L. Kết quả xác minh, tại căn nhà trên có Hà Thị T cùng Bùi Quang M, sinh năm 1996 (con ruột T) và Mai Tuấn K1, ngoài ra còn có Bùi Quang A, sinh năm 2020 (là con của M) cùng sinh sống. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L tiến hành khám xét khẩn cấp nhà số H N, phường V, quận L. Quá trình khám xét thu giữ tại tầng một:
- - Thu dưới nền nhà cạnh tủ quần áo 01 quyển vở học sinh có các trang giấy bị xé, kẹp trong quyển vở có 15 mảnh giấy màu trắng dạng vở học sinh, kích thước 04cm x 04cm và 01 dao tem đã qua sử dụng;
- - Thu trong ngăn kéo giữa tủ quần áo có 04 mảnh nilon màu đen;
- - T5 trong túi áo khoác bên phải để trong tủ quần áo có 01 gói giấy màu trắng dạng giấy vở học sinh chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (Mẫu KX).
Tại bản Kết luận giám định số: 1194 ngày 14/10/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lương Xuân L gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,43 gam, loại: Heroine.
Tại bản Kết luận giảm định số: 1192 ngày 14/10/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H kết luận: Mẫu QT1: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 3,50 gam, loại: Heroine. Mẫu QT2: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,20 gam, loại: Heroine (Tang vật thu giữ trong người của Hà Thị T).
Tại bản Kết luận giám định số: 1193 ngày 14/10/2024 của Phòng kỹ thuật hinh sự Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ trong túi áo khoác tại nhà của Hà Thị T gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,18 gam, loại: Heroine.
Lương Xuân L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra, L khai nhận đã mua ma túy của Hà Thị T nhiều lần và mua từ khi T còn ở nhà số H C, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Sau khi T chuyển đến nhà số H N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, L đã đến và mua của T 04 lần nhưng chỉ nhớ cụ thể 02 lần gần nhất là sáng 07/10/2024 và trưa ngày 08/10/2024 như đã nêu trên.
Hà Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra, T khai trước đây đã từng bán ma túy cho L nhiều lần, từ khi T còn ở nhà số H C, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng nhưng do thời gian đã lâu nên T không nhớ diễn biến việc mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực này. Sau khi chuyển đến nhà số H N, phường V, quận L, T đã 02 lần bán ma túy cho Lăng vào sáng ngày 07/10/2024 và trưa ngày 08/10/2024. Ngoài ra, T khai việc T bán ma túy không có ai biết, không có ai chứng kiến và không có ai tham gia cùng. Tất cả số Heroine lực lượng Công an thu giữ khi bắt quả tang T và số Heroine thu giữ khi khám xét tại nhà số H N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng là của T cất giữ để bán kiếm lời. Số ma tuý này T mua của người nam giới không quen biết ở khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng (T không biết lai lịch, địa chỉ, số điện thoại của nam giới) vào ngày 01/10/2024 và mang về nhà chia thành từng gói ma túy nhỏ với mục đích để bán kiếm lời.
Mai Tuấn K1, Bùi Quang M khai nhận phù hợp với nội dung trên, K1 và M không biết T cất giấu ma túy trong người và tại nhà và không liên quan đến hành vi phạm tội của T.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSLC ngày 26 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố Hà Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố Lương Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như nội dung trên, ngoài ra:
- - Bị cáo T khai: Mục đích mua ma tuý về để bán lại kiếm lời, ngoài bị cáo ra không có ai tham gia bán ma tuý cùng bị cáo. Số tiền bị cơ quan công an thu giữ có 400.000 đồng là tiền bán ma tuý cho Lăng ngày 08/10/2024 số tiền còn lại do tích góp có; số tiền số tiền 200.000 đồng bán ma túy cho L ngày 07/10/2024 đã chi tiêu cá nhân hết.
- - Bị cáo L khai: Mục đích mua ma tuý về để sử dụng không có mục đích nào khác và số tiền dùng mua ma túy do lao động có; điện thoại cơ quan công an thu giữ bị cáo đã liên lạc với bị cáo T để mua ma tuý.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hà Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo Lương Xuân L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Thị T mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Phạt bổ sung bị cáo T số tiền từ 05 đến 10 triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo lương Xuân L mức án từ 21 đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói đã được niêm phong trong phong bì có dấu niêm phong số: 1192MT/PC09, 1193MT/PC09, 1194MT/PC09, 1194MT-A/PC09, 01 quyển vở học sinh có các trang giấy bị xé, kẹp trong quyển vở có 15 mảnh giấy màu trắng dạng vở học sinh, kích thước 04cm x 04cm, 01 dao tem đã qua sử dụng và 04 mảnh nilon màu đen.
Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen dạng bàn phím đã cũ thu giữ của bị cáo T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh dạng bàn phím thu giữ của bị cáo L.
Buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền 200.000 đồng, tiền đã bán ma tuý cho bị cáo L ngày 07/10/2024. Đối với số tiền 4.600.000 đồng thu giữ của bị cáo T, trong đó có 400.000 đồng là tiền bán ma tuý cho Lăng ngày 08/10/2024, nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước, số tiền còn lại tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự.
Trả lại bị cáo T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu VIVO màu xanh đã cũ hiện không lên nguồn và trả lại bị cáo L số tiền 597.000 đồng.
Đối với xe máy điện biển kiểm soát: 15MĐ8-00417, kết quả điều tra xác minh thuộc sở hữu hợp pháp của Bùi Quang M. M cho K1 mượn xe chở T đi khám bệnh và không biết việc T mua bán ma túy. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc máy điện trên cho Bùi Quang M; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16M9 – 6905 đã qua sử dụng thu giữ của Lương Xuân L, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng đã qua sử dụng thu giữ của Mai Tuấn K1, xét thấy không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L, Hải Phòng đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại trên cho Mai Tuấn K1; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với người nam giới bán ma túy cho Hà Thị T và nam giới tên T4 hỏi mua ma túy của T, T khai không biết lai lịch cụ thể. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Đối với hành vi Lương Xuân L mua ma túy của T vào sáng ngày 07/10/2024 để sử dụng. L khai đã sử dụng một mình hết số ma túy đó. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ xử lý; nên không đề nghị Hội đồng xét xử xét giải quyết.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại giai đoạn điều tra, truy tố, tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý:
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác tại hồ sơ và vật chứng thu giữ cho thấy: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2024 đến ngày 08/10/2024, Hà Thị T đã có hành vi cất giữ trái phép 4,31 gam Heroine tại nhà số H N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng với mục đích để bán kiếm lời và ngày 07, 08/10/2024 T đã bán Heroine cho Lương Xuân L 02 lần, trong đó ngày 08/10/2024 T bán cho L 0,43 gam Heroine, Lăng cất giữ số ma túy này để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang vào hồi 12 giờ 15 phút ngày 08/10/2024 tại khu vực trước cửa nhà F N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hà Thị T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Lương Xuân L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung:
[3] Trong hai ngày 07, 08/10/2024 Hà Thị T đã nhiều lần có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho L 02 lần và trên đường mang ma tuý đi bán cho đối tượng tên Thạch thì bị bắt quả tang; do vậy bị cáo phải chịu tình tiết định khung được quy định tại điểm b (phạm tội 02 lần trở lên) khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
- Ngày 08/10/2024, L có hành vi tàng trữ trái phép 0,43 gam Heroin, nên phải chịu tình tiết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội.
[5] Các bị cáo biết hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, đối với bị cáo T thực hiện hành vi vì mục đích vụ lợi.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[6] Đối với bị cáo T: Nhân thân bị cáo có 01 tiền chưa xoá, tại Bản án số 153/2010/HSST ngày 24/11/2010, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 54 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2015 và chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/3/2011, chấp hành xong tiền phạt và lãi xuất ngày 20/12/2024). Nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” lên quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Đối với bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[8] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo L có bố đã tham gia quân ngũ và bị nhiễm chất độc hoá học; Kiểm sát viên tham gia phiên toà có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 (đối với 02 bị cáo) và khoản 2 (cho bị cáo L) Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình là có căn cứ chấp nhận.
- Về nhân thân:
[9] Bị cáo T ngoài tiền án chưa xoá nêu trên, bị cáo còn có 03 tiền án đã xoá và có 03 tiền sự đã hết thời hạn:
Tại Bản án số 50/HSST ngày 19/6/1974, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, 12 tháng thử thách về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 666/2001/HSST ngày 20/12/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 05 năm tù về tội Chứa mại dâm; tại Bản án số 151/2019/HSST ngày 18/10/2019, Tòa án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;
Ngày 16/8/1972 Công an quận N về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; ngày 05/4/1974 Công an quận L bắt về hành vi Buôn bán hàng cấm; ngày 15/10/2010 Công an quận L bắt về hành vi Đầu cơ.
[10] Bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự.
- Về hình phạt áp dụng:
[11] Từ những phân tích trên cho thấy bị cáo T có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội liên quan đến mua bán, tàng trứ trái phép chất ma tuý nhưng nay vẫn tiếp tục phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung. Đối với bị cáo L cũng cần phải áp dụng hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo và buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo, phòng ngừa tội phạm chung
- Về hình phạt bổ sung:
[12] Đối với bị cáo T phạm tội vì mục đích vụ lợi, nên cần phái áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để sung ngân sách Nhà nước phù hợp ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
[13] Đối với bị cáo L không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp với thực tế và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
- Về xử lý vật chứng:
[14] Toàn bộ số ma túy khi bắt giữ bị cáo T và khi khám xét nhà T Cơ quan điều tra thu giữ, sau khi lấy đi giám định lượng còn lại được niêm phong trong 02 bì giấy có dấu niêm phong số 1192MT/PC09 và 1193MT/PC09 có chữ ký của người liên quan; Số ma tuý khi bắt giữ bị cáo L sau khi lấy giám định lượng còn lại được niêm phong trong 01 bì giấy có dấu niêm phong số 1194MT/PC09 và có chữ ký của những người liên quan. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
[15] Toàn bộ vỏ bao gói ma tuý khi bắt giữ bị cáo L được niêm phong lại trong bì giấy theo dấu niêm phong số 1194MT-A/PC09 có chữ ký của những người liên quan cùng 01 quyển vở học sinh có các trang giấy bị xé, kẹp trong quyển vở có 15 mảnh giấy màu trắng dạng vở học sinh, kích thước 04cm x 04cm, 01 dao tem đã qua sử dụng và 04 mảnh nilon màu đen thu giữ tại nhà bị cáo T. Xét đây là vật cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
[16] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen dạng bàn phím đã cũ thu giữ của bị cáo T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh dạng bàn phím thu giữ của bị cáo L; xét các bị cáo đã sử dụng liên lạc với nhau để mua, bán ma tuý; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[17] Đối với điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu VIVO màu xanh đã cũ hiện không lên nguồn thu giữ của bị cáo T, xét đây là tài sản của bị cáo, tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên trả lại bị cáo T.
[18] Đối với số tiền 200.000 đồng bị cáo T bán ma tuý cho bị cáo L ngày 07/10/2024 mà có; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
[19] Đối với số tiền 4.600.000 đồng thu giữ của bị cáo T, trong đó có 400.000 đồng là tiền bán ma tuý cho bị cáo L ngày 08/10/2024 mà có; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 400.000 đồng, số tiền còn thừa trả lại bị cáo T nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự.
[20] Đối với số tiền 597.000 đồng thu giữ của bị cáo L, tài liệu điều tra không chứng minh được liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại số tiền này cho bị cáo L.
- Về án phí:
[21] Bị cáo T là người cao tuổi và tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xin miễn án phí; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
[22] Bị cáo L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
- Về quyền kháng cáo:
[23] Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hà Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lương Xuân L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Hà Thị T 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2024.
Phạt bổ sung bị cáo Hà Thị T số tiền 05 triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Xử phạt: Lương Xuân L 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 04 bì giấy có dấu niêm phong số 1192MT/PC09, 1193MT/PC09, 1194MT/PC09 và 1194MT-A/PC09 có chữ ký của người liên quan (bên trong là lượng ma tuý và vỏ bao gói mẫu vật thu giữ của các bị cáo còn lại sau giám định) cùng 01 quyển vở học sinh có các trang giấy bị xé, kẹp trong quyển vở có 15 mảnh giấy màu trắng dạng vở học sinh, kích thước 04cm x 04cm, 01 dao tem đã qua sử dụng và 04 mảnh nilon màu đen thu giữ tại nhà bị cáo T.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen dạng bàn phím đã cũ thu giữ của bị cáo T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh dạng bàn phím thu giữ của bị cáo L.
- - Buộc bị cáo T nộp lại 200.000 đồng do phạm tội mà có để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền 4.600.000 đồng thu giữ của bị cáo T, trong đó có 400.000 đồng là tiền bán ma tuý cho bị cáo L ngày 08/10/2024; nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000 đồng, số tiền còn lại trả cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án phần dân sự.
- - Trả lại bị cáo T chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đã cũ hiện không lên nguồn.
- - Trả lại bị cáo L số tiền 597.000 đồng.
(Theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 27 tháng 3 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục thi hành án dân sự quận L và Ủy nhiệm chi ký hiệu: C4-02a/KB ngày 21/4/2025 giữa Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố H và Kho bạc Nhà nước khu vực 3).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Hà Thị T được miễn án phí Hình sự sơ thẩm, bị cáo Lương Xuân L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ vào Điều 2, 26 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Bá Lộc |
Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự
- Số bản án: 89/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thị T + Lương Xuân L Mua bán trái phép chất ma túy
