Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HS-ST

Ngày: 23-6-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đình Thành.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đính, ông Phạm Minh Sơn.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chiều - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 15/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HS ngày 26/5/2025 và Thông báo số 14/TB-TA ngày 06/6/2025 về việc dời phiên tòa xét xử sơ thẩm, đối với bị cáo:

* Bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn M; Sinh ngày: 03/6/2002; Căn cước công dân số: [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 18/5/2022; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký tạm trú: Nhà trọ K, tổ A, khu phố F, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn M1 – Sinh năm: 1973 và bà Dương Thị Ngọc D – Sinh năm: 1980; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 (Ngày 14/11/2023 bị cáo đã bị TAND huyện Mỏ Cầy Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HS-ST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 28/6/2024); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/3/2025 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Bà Nguyễn Thị C - Sinh năm: 1962 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Xuân C1 - Sinh năm: 1987 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/3/2025, bị cáo Lê Văn M đi bộ đến tiệm tạp hóa "Tám Khá" địa chỉ tổ H, khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước do bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962 làm chủ để mua thuốc lá và card điện thoại di động. Trong quá trình mua bán, M thấy bà C đã lớn tuổi và bán một mình, có nhiều sơ hở để lợi dụng nhằm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, trưa ngày 22/3/2025, khi đang ở nhà trọ “Kim Lan", Mẫn này sinh ý định đến tiệm tạp hóa trên để trộm cắp tài sản.

Khoảng 14 giờ 00 ngày 22/3/2025, bị cáo Lê Văn M đi bộ 01 mình từ nhà trọ “K”, địa chỉ: tổ A, khu phố F, phường M, thị xã C đến tiệm tạp hóa “Tám Khả", khi đến M thấy tiệm tạp hóa đang mở cửa nhưng không có người trông coi. M đi thẳng vào phòng khách thì thấy trong phòng có 01 bàn gỗ đặt sát tường, trên bản có 01 rổ nhựa bên trong có tiền mặt (tiền lẻ có nhiều mệnh giá từ 1000 đồng – 20.000 đồng) và khoảng hơn 10 cái card điện thoại Viettel mệnh giá 50.000 đồng, kế bên rổ nhựa để một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh. Thấy vậy, M lấy hết số tiền, card điện thoại V trong rổ nhựa và một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 bỏ vào túi quần Jean bên phải rồi đi thẳng ra ngoài đường và đi bộ về phòng trọ. Sau khi về phòng trọ, M lấy tiền và card điện thoại trộm cắp được ra đếm thì được tổng cộng 300.000 đồng tiền mặt và 12 card điện thoại V mệnh giá 50.000đồng/card (tổng số tiền 900.000 đồng). Số tiền trộm cắp được M sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân, số card điện thoại nói trên M sử dụng để nạp game.

Ngày 23/3/2025, M đem điện thoại di động trộm cắp được lên tiệm cầm đồ "Huy Hoàng", địa chỉ: Khu phố C, phường M, thị xã C do ông Lê Xuân C1, sinh năm 1987 làm chủ để cầm cố với số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng). Để che giấu thông tin cá nhân nhằm tránh bị phát hiện, M đã lấy tên giả là "Nguyễn Thanh A" khi thực hiện việc cầm cố điện thoại cho ông C1. Toàn bộ số tiền cầm cố được M đã sử dụng hết vào việc tiêu xài cá nhân.

Do bận công việc nên đến ngày 27/3/2025, bà C mới đến Công an phường H để trình báo sự việc nêu trên. Cùng ngày, Công an phường H đã xác định được đối tượng M đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bà C. Ngày 28/3/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với M.

Quá trình điều tra, M đã khai khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên (Bút lục số 32-48, 57-69, 81-85, 86-92).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 17/KLĐG-HĐĐGTS ngày 31/3/2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã C kết luận: Trị giá của 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh ngọc tại thời điểm bị chiếm đoạt là 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi ngàn đồng).

Tổng số tiền M chiếm đoạt của bà C là 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm ngàn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 86/CT-VKSCT ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành vẫn giữ nguyên quyết định đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn M từ 15 đến 18 tháng tù.

Bị cáo Lê Văn M thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát, lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát nhân dân; Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng số 86/CT-VKSCT ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành đã truy tố bị cáo.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 22/3/2025, tại tổ H, khu phố B, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước, bị cáo Lê Văn M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị C 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh ngọc, số seri: 865359052703356 trị giá 2.200.000 đồng; 12 thẻ cào V mệnh giá 50.000 đồng có tổng gía trị 600.000 đồng và 300.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị cáo Lê Văn M chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị C là 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm ngàn đồng). Hành vi của bị cáo Lê Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Tội phạm và Hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, quá trình thực hiện tội phạm bị cáo hoàn toàn làm chủ được hành vi của mình, nhưng chỉ vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền một cách nhanh chóng để phục vụ cho tiêu xài của bản thân mà không cần phải bỏ mồ hôi công sức, bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó đã gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Bản thân bị cáo có một tiền án, ngày 14/11/2023 bị cáo đã bị TAND huyện Mỏ Cầy Nam, tỉnh Bến Tre xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2023/HS-ST, ngày 28/6/2024 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống.

Về nhân thân, ngày 28/6/2022, bị cáo đã bị Công an xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPHC. Ngày 19/7/2022, bị cáo tiếp tục bị chủ tịch UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1018/QĐ-XPHC.

Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, cần phải xét xử bị cáo một mức án tù có thời hạn thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm để tiếp tục răn đe, giáo dục bị cáo trong môi trường có sự quản lý của Nhà nước, để sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.

Tuy nhiên cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần phải áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[4] Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lê Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật. Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tại phiên tòa về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với hành vi của ông Lê Xuân C1 cầm điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, màu xanh của bị cáo Lê Văn M nhưng ông C1 không biết điện thoại này là tài sản do bị cáo M phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Người bị hại bà Nguyễn Thị C không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân C1 không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.

[7] Vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 (Một) quần Jean dài màu xanh; 01 (Một) áo thun màu đen; 01 (Một) áo sơ mi sọc caro màu xanh đen là vật chứng của vụ án nhưng không có giá trị sử dụng nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 (Một) USB bên trong có chứa đoạn video có liên quan đến vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 22/3/2025 được chuyển lưu theo hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.

[8] Về án phí:

Bị cáo Lê Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn M 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/3/2025.

3. Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 (Một) quần Jean dài màu xanh; 01 (Một) áo thun màu đen; 01 (Một) áo sơ mi sọc caro màu xanh đen.

(Số vật chứng trên đã chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0005375, Quyển số: 0108, ký hiệu D47/2017 ngày 19/5/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước).

4. Về án phí:

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Văn M phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lê Văn M có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại bà Nguyễn Thị C và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Xuân C1 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND TX.Chơn Thành;
  • - Chi cục THADS TX.Chơn Thành;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án – Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

CAO ĐÌNH THÀNH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 89/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Văn Mẫn phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger