TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2025/HS-ST
Ngày 11 - 4 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Khanh; Ông Dương Văn Quí.
Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh (số I đường Q, thị trấn H, huyện H, Thành phố H phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 17/02/2025, Quyết định Hoãn phiên tòa số 77/2025/HSST-QĐ ngày 14/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thanh T(tên gọi khác: không), sinh năm 1978 tại tỉnh Tiền Giang; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: ấp D, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giangnơi ở: Nhà không số, ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Làm thuê; cha: Đỗ Văn Đ, mẹ: Phạm Thị S; bị cáo có 01 con sinh năm 2002; có: 02 (hai) tiền án (năm 2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 năm tù về tội Cướp tài sản; năm 2012 Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy); tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội Cướp tài sản. Chấp hành án xong ngày 12/8/2022;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2024 đến nay (Có mặt).
- Bị hại: Bà Đặng Huỳnh T1.
Địa chỉ: G đường A, ấp G, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh(Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đinh Văn B, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Thôn G, xã E, huyện M, tỉnh Đăk Lắk (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/8/2024, Đỗ Thanh T2 khiển xe mô tô hiệu Honda Dream, biển số 47K8-8177 đến khu di tích lịch sử N Gthì dừng xe dưới lề đường cạnh địa chỉ 208 đường P, ấp E, xã X, huyện H, T bước xuống đi bộ đến giao lộ P- N thì phát hiện bà Đặng Huỳnh T3 trên cổ có đeo sợi dây chuyền vàng ngồi sau xe mô tô do ông Nguyễn B1 T2điều khiển đang dừng chờ tín hiệu đèn tại giao lộ nên Đỗ Thanh T4 sinh ý định cướp giật sợi dây chuyền. Tđi bộ lại gần bà T1dùng tay phải giật được sợi dây chuyền trên cổ của bà Tlrồi nhanh chóng bỏ chạy thì bị ông T2đuổi theo đến đường bê tông ấp B, xã X, huyện H được Tcùng tang vật và giao Tcho Công an xã Xxử lý.
Kết luận định giá tài sản số 169/KL-HĐĐGTS ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện H:
01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng và mặt dây chuyền hình thánh giá (02 chỉ) loại vàng 18K có trị giá 11.096.200 đồng.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Đỗ Thanh T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (mặt) dây chuyền bằng kim loại màu vàng (Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho bà Đặng Huỳnh T3;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI 1: 869839052426443, số IMEI 2: 869839052426450, có gắn sim số 0344342486 là điện thoại Tdùng liên lạc cá nhân (không liên quan vụ án);
- - 01 (một) xe máy hiệu Honda Dream màu nâu đã qua sử dụng, biển kiểm soát: 47K8-8177, số khung VHMPCG00328043726, số máy VHMCT100006426;
Qua xác minh xe do ông Đinh Văn B2 năm 1985 có đăng ký thường trú tại thôn G, xã E, huyện M, tỉnh Đăk Lắk làm chủ sở hữu. Năm 2007, do làm mất giấy tờ xe và xe đã cũ nên ông B3 phế liệu. Đỗ Thanh T5 nhận mua của một người không rõ lai lịch, lúc mua không có giấy đăng ký xe.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không bị thương tích gì, không có yêu cầu bồi thường.
Cáo trạng số 53/CT-VKS.HM ngày 15/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Thanh T6 tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017), sau đây được viết là Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố phát biểu: Qua thẩm vấn công khai và tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thanh T khai nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố; nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc mới bảo đảm tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Đỗ Thanh T7 tội “Cướp giật tài sản” với tình tiết định khung hình phạt – tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
* Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tiền sự: Không có. Tiền án: Có 02 tiền án:
- + Năm 2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án 70/HS-ST ngày 15/6/2006);
- + Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án 68/HS-ST ngày 21/9/2012). Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành tại Bản án 70/2006/HS-ST ngày 15/6/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang 02 năm 10 tháng 29 ngày, buộc Đỗ Thanh T8 chấp hành hình phạt chung là 10 năm 04 tháng 29 ngày. Bị cáo chấp hành hình phạt xong ngày 12/8/2022.
Nhân thân: Năm 2002 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án 96/HS-ST ngày 20/8/2002). Chấp hành án xong ngày 23/9/2004.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
* Hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T9 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/8/2024. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng – 15.000.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả cho bị hại Đặng Huỳnh T3 đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 màu trắng đã qua sử dụng, số Imei 1: 869839052426443, số Imei 2: 869839052426450, điện thoại bị cáo T10 liên lạc cá nhân đề nghị trả cho bị cáo;
- - 01 (một) xe máy hiệu Honda Dream màu nâu đã qua sử dụng, biển kiểm soát 47K8-8177, số khung VHMPCG00328043726, số máy VHMCT100006426
Xe do ông Đinh Văn B2 năm 1985; địa chỉ đăng ký thường trú tại Thôn G, xã E, huyện M, tỉnh Đăk Lắklà chủ sở hữu. Năm 2007, ông B làm mất giấy tờ xe và xe đã cũ nên ông B3 phế liệu. Bị cáo T5 mua của một người không rõ lai lịch, lúc mua xe không làm giấy mua bán và không có giấy đăng ký xe. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cơ quan thi hành án dân sự huyện H thông báo công khai tìm người quản lý hợp pháp trong thời hạn luật định, nếu không xác định được thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
* Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường.
2. Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Thanh T5 nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố.
3. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội do mình thự hiện, xin Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để sớm quay về chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, của Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, qua phần xét hỏi công khai và tranh luận bị cáo khai nhận thực hiện toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, cụ thể: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/08/2024, bị cáo Đỗ Thanh T11 bộ đến giao lộ Phan Văn H– Nguyễn Văn B1dùng tay giật sợi dây chuyền vàng của bà Đặng Huỳnh T12 đeo trên cổ có trị giá 11.096.200 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát nhưng bị ông Nguyễn Bá T13 theo bắt được.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác thể hiện tại hồ sơ, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản, với tình tiết định khung hình phạt – tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo dư luận xấu trong xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm của mình. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với hành vi do bị cáo gây ra.
Nhân thân: Năm 2002 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án 96/HS-ST ngày 20/8/2002). Chấp hành án xong ngày 23/9/2004.
Tiền sự: Không có. Tiền án: Có 02 tiền án:
- + Năm 2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” (Bản án 70/HS-ST ngày 15/6/2006);
- + Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án 68/HS-ST ngày 21/9/2012). Tổng hợp với hình phạt chưa chấp hành tại Bản án 70/2006/HS-ST ngày 15/6/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang 02 năm 10 tháng 29 ngày, buộc Đỗ Thanh T8 chấp hành hình phạt chung là 10 năm 04 tháng 29 ngày. Bị cáo chấp hành hình phạt xong ngày 12/8/2022.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Đỗ Thanh T14 khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Với những tình tiết như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung nên việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định;
[3]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đỗ Thanh T15 có nghề nghiệp ổn định, không có nguồn thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) dây chuyền bằng kim loại màu vàng; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng. Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả cho bị hại Đặng Huỳnh T3 nên Hội đồng xét xử ghi nhận;
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 màu trắng đã qua sử dụng số Imei 1: 869839052426443, số Imei 2: 869839052426450, bị cáo T10 liên lạc cá nhân, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả cho bị cáo là phù hợp;
- - 01 (một) xe máy hiệu Honda Dream màu nâu đã qua sử dụng, biển kiểm soát 47K8-8177, số khung VHMPCG00328043726, số máy VHMCT100006426. Qua xác minh, xe do ông Đinh Văn B4 tên chủ sở hữu nhưng xe đã cũ và không có giấy tờ đăng ký nên ông B3 cho cửa hàng phế liệu. Ông B5 yêu cầu gì đối với xe này. Hội đồng xét xử quyết định giao chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn quản lý, bảo quản và thông báo với thời hạn 12 (mười hai) tháng tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu nộp, ngân sách Nhà nước là đúng quy định.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không bị thương, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như xử lý vật chứng vụ án và dân sự; và chấp nhận đề nghị của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017)
Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh T 05 (năm) tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 11/8/2024.
- Căn cứ Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi Note 10 màu trắng đã qua sử dụng số Imei 1: 869839052426443, số Imei 2: 869839052426450;
Giao 01 (một) xe máy hiệu Honda Dream màu nâu đã qua sử dụng, biển kiểm soát 47K8-8177, số khung VHMPCG00328043726, số máy VHMCT100006426 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn quản lý, bảo quản và thông báo với thời hạn 12 (mười hai) tháng tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Hết thời hạn thông báo mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp liên hệ nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
(Vật chứng hiện được lưu giữ tại kho vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn và Công an huyện H1).
- Căn cứ Điều 136, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Bị cáo Đỗ Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Trang |
Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 89/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp giật tài sản
