Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 89/2025/HS-ST
Ngày: 04-6-2025.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thành
  2. Bà Trần Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Hoàng Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thư ký phiên tòa tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm:

Bà Hoàng Tuyết Vân - Kiểm sát viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

Ông Nguyễn Tuấn A- Kiểm sát viên.

- Đại diện Công an nhân dân Q tham gia phiên toà tại điểm cầu thành phần:

  • - Ông Lê Ngọc H1 – Cán bộ thuộc Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A.
  • - Ông Văn Mạnh H2 – Cán bộ thuộc Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A.
  • Ông Lương Khánh H3 – Cán bộ thuộc Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A.
  • - Ông Trương Quang M – Cán bộ thuộc Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A.

Ngày 04 tháng 6 năm 2025, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến trong đó điểm cầu trung tâm: Trụ sở Toà án nhân dân Quận 10, địa chỉ số B đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến – Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực Quận A, địa chỉ số D đường T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh vụ án hình sự thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 04 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Đoàn Trung H4; sinh ngày 23/6/1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: E đường L, Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: E đường L, Phường I, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Văn H5 và bà: Đỗ Thị Thanh V; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/12/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam Khu vực Quận A.

(Bị cáo có mặt).

- Bị hại:

Chị Nguyễn Nữ Hải Y, sinh năm 2006 (vắng mặt)

Địa chỉ: 3 đường V, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ ngày 17/12/2024, bị cáo Đoàn Trung H4 từ nhà đi bộ ra tiệm Internet ở Phường I, Quận C chơi, đến 16 giờ cùng ngày bị cáo H4 đi bộ qua hẻm B đường C, Phường A, Quận A rồi đi lòng vòng qua khu vực đường C. Khi đi đến trước Cửa hàng M1, số B đường C, Phường A, Quận A, bị cáo H4 thấy có nhiều xe môtô đang dựng phía trước, trong đó có 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Wave SX biển số: 77D1-444.79, của chị Nguyễn Nữ Hải Y – là khách của Cửa hàng M1, để ngoài cùng gần gốc cây, khuất tầm nhìn, không ai trông coi. Bị cáo H4 nảy sinh ý định chiếm đoạt xe nên đi bộ đến đứng phía sau gốc cây trước Cửa hàng quan sát, thấy không có ai trông coi nên đi đến xe, dùng 02 tay cầm tay lái đẩy xe biển số: 77D1-444.79 xuống lòng đường, sau đó đẩy bộ xe về hướng đường C - H - Lê Hồng P - Đường C. Do đẩy bộ xe mệt, Bị cáo H4 nói xe bị hết xăng nhờ người đi đường đẩy hộ về đến nhà H4 tại số B đường L, Phường I, Quận C, để cất giấu, do nhà chật nên H4 để xe ở hẻm trước nhà rồi dùng áo trùm xe bọc kín lại, sau đó bị cáo H4 lấy đồ đạc đi về xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre để đi ra biển đánh bắt cá cùng với người họ hàng tên H6 và sau đó có nói với cha mẹ là khoảng tuần sau về.

Chị Nguyễn Nữ Hải Y ra lấy xe phát hiện chiếc xe môtô hiệu Honda Wave RSX biển số: 77D1-444.79 bị mất nên đến Công an P1, Quận A trình báo sự việc.

Đến ngày 27/12/2024, bị cáo H4 được sự vận động của gia đình nên đến Công an P1, Quận A, đầu thú và giao nộp chiếc xe hiệu Honda Wave SX biển số:77D1-444.79 cho Cơ quan Công an.

Tại kết luận định giá tài sản số 0028/KL-HĐĐGTS ngày 06/01/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: “Chiếc xe môtô hiệu honda Wave RSX, màu đen- đỏ biển số: 77D1-444.79, có giá trị là 9.500.000 đồng”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Đoàn Trung H4 khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản trích xuất, kiểm tra camera tại trước số B C, Phường A, Quận A; biên bản thực nghiệm điều tra, lời khai bị hại.

Tài sản, vật chứng vụ án:

  • - 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen và 01 quần Jean dài màu xanh- đen - là trang phục của H4 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.

Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.

  • - 01 chiếc xe môtô hiệu honda Wave RSX biển số: 77D1-44.79; số khung: 3826GY115917, số máy: JA38E02388472 do ông Nguyễn Văn H7, Hộ khẩu thường trú: ấp X, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, đứng tên đăng ký xe. Ông H7 khai, tháng 9/2024 cho chị Y chiếc xe trên để làm phương tiện đi học. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Nguyễn Nữ Hải Y.

Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKSQ10 ngày 02 tháng 04 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

Bị cáo Đoàn Trung H4 về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội

gây thiệt hại không lớn, đầu thú) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm s, h, i khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Đoàn Trung H4 từ 09 tháng đến 01 năm tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.

  • - Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
  • - Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, hình ảnh Camera, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Đoàn Trung H4 đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX biển số: 77D1-44479, trị giá 9.500.000 đồng. Do vậy, bị cáo Đoàn Trung H4 bị truy tố và xét

xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h, i khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen và 01 quần Jean dài màu xanh - đen. Xét thấy đây là trang phục bị cáo H4 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị, bị cáo không đồng ý nhận lại. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu và tiêu hủy.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào điểm khoản 1, Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, h, i khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • - Căn cứ điểm điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Đoàn Trung H4 08 (tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2024.

Miễn phạt bổ sung đối với bị cáo Đoàn Trung H4.

Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 áo thun ngắn tay màu xanh, 01 mũ lưỡi trai màu đen và 01 quần Jean dài màu xanh – đen.

(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/4/2025 giữa Công an Thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).

Buộc bị cáo Đoàn Trung H4 chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án;

Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Q.10; (2)
  • - CATPHCM-CSQ10; (2)
  • - Chi cục THADS Q.10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HS-ST ngày 04/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 89/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Trung Hiếu phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger