Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:89/2025/HS-PT

Ngày: 31/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Long

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Trọng Danh

Ông Lê Tự Sinh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2025/TLPT-HS ngày 3 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo Trần Quang T và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 25/2/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Trần Quang T, sinh ngày: 21/8/1957 tại Quảng Nam. Nơi thường trú: Tổ 30 phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Q (đã chết) và bà Lê Thị N (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Đ, và có 06 người con.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thị Hồng T1, sinh ngày 14/10/1981 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú: K đường T, tổ A phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Hữu D và bà Võ Thị H; có chồng là Tống Phước H1, và có 02 người con.Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Trần Thị H2, sinh ngày 01/01/1974 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú: Tổ E phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ văn hóa:

1

3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Minh V (đã chết) và bà Trần Thị B (đã chết); có chồng đã ly hôn và có 05 người con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Ú, sinh ngày 16/10/1968 tại Đà Nẵng. Nơi thường trú: Tổ A phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Thợ nề; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Cẩm N1 (đã chết), vợ Nguyễn Thị Kim L1, và có 03 người con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

5. Trần Vinh T2, sinh ngày 20/9/1961 tại Thừa Thiên Huế. Nơi thường trú: Tổ B phường N (nay là phường P), quận H, thành phố Đà Nẵng. Nơi cư trú: K đường H, phường T (nay là phường X), quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Vinh L2 (đã chết) và bà Mai Thị D1 (đã chết); có vợ là Võ Minh T3, và có 3 con; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 197/2013/HSPT ngày 10/9/2013. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Trần Thị A nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

* Người bào chữa:

  • - Ông Nguyễn Trung T4 – Luật sư của Công ty Đ2 Luật, chi nhánh Đ3, thuộc Đoàn luật sư T6 bào chữa cho các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị H2. Có mặt.
  • - Ông Hoàng Đỗ Thanh N2 – Luật sư của Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư T7 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Út . Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 15 giờ ngày 02/7/2024, tại tầng 2 ngôi nhà ở địa chỉ: Số K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, C1 anphường H bắt quả tang Trần Quang T, Võ Thị Đ1 đang tổ chức. Nguyễn Thị Thu H3, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, Nguyễn Thị Hồng T1, Phan Minh C, Nguyễn Ú và Trần Thị A đánh bạc được, thua bằngtiền. Qua điều tra xác định:

Từ đầu năm 2024 cho đến ngày 02/7/2024, vợ chồng Trần Quang T và Nguyễn Thị Đ nhiều lần sử dụng nhà ở của mình tại địa chỉ: K đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng làm địa điểm cho những người khác đến đánh bạc trái phép nhằm thu lợi bất chính và thoả mãn ham muốn cờ bạc của T.

2

Về cách thức tổ chức đánh bạc: T và Đ là người trực tiếp quản lý ngôi nhà nói trên, trong đó tầng 1 thì Đ sử dụng để bán nước và thức ăn, còn tầng 2 gồm khu vực sân phơi và phòng ngủ thì được cả hai sử dụng làm địa điểm tổ chức đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm. Mỗi chiếu bạc gồm 04 người chơi, được T và Đây cung cấp 01 bàn nhựa được trải bởi 01 tấm chăn, 04 ghế nhựa, 02 bộ bài tây 52 lá và 01 hộp nhựa có sẵn một ít tiền lẻ cho người chơi đổi tiền để nộp tiền xâu, tiền đồ ăn, thức uống. Quá trình tổ chức đánh bạc thì Đây phục vụ thức ăn, nước uống cho những người chơi đánh bạc, T phụ trách dọn dẹp, vệ sinh và đi mua bài nếu người chơi yêu cầu.

Về cách thức đánh bạc: Trước khi tham gia, những người chơi đánh bạc thống nhất sẽ đặt trên bàn số tiền 1.000.000 đồng/người để chung tiền thắng thua. Nếu người nào hết tiền trên bàn thì cả bốn người tiếp tục đặt lại đủ 1.000.000 đồng để tránh trường hợp có người thua hết tiền mà không chung. Người chia bài sử dụng bộ bài tây 52 lá chia đều cho 04 người, người đánh trước thì được 10 lá bài, mỗi người còn lại được 09 lá bài, số bài dư được úp trên bàn. Tiếp đó, người chơi trước đánh 01 lá bài xuống, người chơi sau có quyền bốc lá bài người đánh trước (gọi là “ăn gà") để tạo với số bài mình đang có 01 tổ hợp trên 03 cây bài đồng chất hoặc giống nhau (gọi là phỏm). Nếu người chơi không bốc được lá bài đánh liền trước thì phải bốc 01 lá bài từ bài đang úp đồng thời chọn 01 lá bài đánh xuống. Cứ như vậy, người chơi tiếp nối nhau theo chiều phải qua trái cho đến khi bốc hết số bài đang úp hoặc có người “ù" (bài có 03 phỏm). Nếu ai có bài "ù" thì thắng ba nhà còn lại, nếu không có bài “ừ” thì mọi người mở bài, nếu ai có số điểm thấp nhất thì thắng những nhà còn lại với số tiền theo số điểm từ thấp đến cao.

Với cách thức như trên, khoảng 13 giờ ngày 02/7/2024, Trần Quang T, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, Nguyễn Ú và khoảng 14 giờ ngày 02/7/2024, Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị Á đến tầng 2 ngôi nhà số K đường T để tham gia vào 02 chiếu bạc. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, trong lúc các đối tượng đang thựchiện hành vi đánh bạc được, thua bằng tiền thì bị Công an phường H quả tang 02 chiếu bạc, cụ thể như sau:

* Tại chiếu bạc ở sân phơi gồm có: Trần Thị H2, Trần Vinh T2, Nguyễn Ú, Trần Quang T tham gia đánh bạc với nhau, quy ước thắng thua như sau: Ăn gà thứ nhất là 10.000 đồng, ăn gà thứ hai là 20.000 đồng, ăn gà thứ ba hoặc thứ tư là 40.000 đồng, nếu ai có bài "ù" thì thẳng mỗi nhà còn lại 60.000 đồng, nếu tính điểm thì người thấp điểm nhất sẽ thắng các nhà còn lại lần lượt 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng, nhà nào không có phỏm phải thua 40.000 đồng. Mức nộp xâu là 10.000 đồng/ván ù.

Số tiền dùng vào việc đánh bạc của các bị cáo cu thể như sau:

Nguyễn Út M theo số tiền 2.405.000 đồng, sau khi trả tiền nước 10.000 đồng, Ú sử dụng số tiền còn lại đánh bạc. Quá trình chơi có lúc thắng lúc thua, Ú bỏ số

3

tiền xâu 10.000 đồng, tại thời điểm lập biên bản thì Ú thua số tiền 520.000 đồng. Tạm giữ của Ú số tiền 480.000 đồng trên chiếu bạc, số tiền 1.385.000 đồng trong túi quần phía trước dùng vào việc đánh bạc.

Trần Thị H2 đem theo số tiền là 3.618.000 đồng, sau khi trả tiền nước - 20.000 đồng, H2 sử dụng số tiền còn lại để đánh bạc. Tại thời điểm phát hiện, H2 thắng 550.000 đồng, nộp xâu 20.000 đồng, tạm giữ trên bàn tại vị trí đang ngồi số tiền 1.260.000 đồng, trong túi xách phía dưới bàn số tiền 2.868.000 đồng.

Trần Quang T sử dụng số tiền 2.700.000 đồng để đánh bạc. Đến khi bị phát hiện thì thua 600.000 đồng, tạm giữ trên bàn tại vị trí đang ngồi số tiền 400.000 đồng, trong ví số tiền 1.700.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.

Trần Vinh T2 có trong người số tiền 1.010.000 đồng, sau khi trả tiền nước 10.000 đồng thì T2 sử dụng vào việc đánh bạc. Quá trình đánh bạc thắng được 560.000 đồng, nộp tiền xâu 50.000 đồng. Tạm giữ của T2 số tiền 1.500.000 đồng trên chiếu bạc.

Tại hộp nhựa dưới chiếu bạc, thu giữ số tiền 120.000 đồng gồm tiền xâu, tiền thức ăn nước uống và tiền lẻ để người chơi đổi tiền.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Quang T và Trần Vinh T2 dùng để đánh bạc là 9.713.000 đồng.

* Tại chiếu bạc trong phòng ngủ gồm có: Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị Á tham gia đánh bạc với nhau, quy ước thắng thua như sau: Ăn gà thứ nhất là 20.000 đồng, ăn gà thứ hai là 40.000 đồng, ăn gà thứ ba hoặc thứ tư là 80.000 đồng; nếu ai có bài “ừ” thì thắng mỗi nhà còn lại 120.000 đồng; nếu tính điểm thì người thấp điểm nhất sẽ thắng các nhà còn lại lần lượt 20.000 đồng, 40.000 đồng, 60.000 đồng, nhà nào không có phỏm phải thua 80.000 đồng. Mức nộp xâu sẽ là 20.000 đồng/ván “ừ”.

Số tiền dùng vào việc đánh bạc của các bị cáo cụ thể như sau:

Nguyễn Thị Thu H3 mang theo số tiền 2.200.000 đồng, sau khi trà tiền nước 30.000 đồng thì sử dụng số tiền còn lại đánh bạc. Tại thời điểm phát hiện, H3 thắng được số tiền 230.000 đồng, nộp tiền xâu 40.000 đồng. Tạm giữ trên chiếu bạc số tiền 940.000 đồng, trong túi xách số tiền 1.460.000 đồngdùng vào việc đánh bạc.

Phan Minh C mang theo số tiền 1.620.000 đồng, sau khi trả tiền nước 50.000 đồng thì C sử dụng số tiền còn lại để đánh bạc. Quá trình chơi, Chiến thắng được số tiền 80.000 đồng, chưa đóng tiền xâu và tạm giữ trên chiếu bạc tiền 1.080.000 đồng, trong ví số tiền 570.000 đồng dùng để đánh bạc.

Nguyễn Thị Hồng T1 đem theo số tiền 5.720.000 đồng, sau khi trả tiền nước 30.000 đồng thì T1 dùng số tiền còn lại vào việc đánh bạc. Đến khi bị phát hiện thì T1 thua số tiền 300.000 đồng, đã nộp tiền xâu 40.000 đồng, còn lại tạm giữ trên chiếu bạc số tiền 400.000 đồng, trong túi xách số tiền 4.950.000 đồng dùng vào việc đánh bạc.

4

Trần Thị A có số tiền 480.000 đồng, trả tiền nước 30.000 đồng thì sử dụng tiền còn lại để đánh bạc. Quá trình chơi thì thua hết 80.000 đồng chỉ còn lại 370.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc.

Tại hộp nhựa dưới chiếu bạc, thu giữ số tiền 400.000 đồng gồm tiền xâu, tiền thức ăn nước uống và tiền lẻ để người chơi đổi tiền.

Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị A dùng để đánh bạc là 10.170.000 đồng.

Qua điều tra, làm rõ tiền xâu thu được tại 02 chiếu bạc là 160.000 đồng, tiền phục vụ thức ăn nước uống là 180.000 đồng, tiền lẻ chuẩn bị sẵn là 180.000 đồng.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2025/HS-ST ngày 25/2/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

- Căn cứ: Điểm a, b khoản 1 Điều 322, khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Quang T 01 (Một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Quang T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H2 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Út 0 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Vinh T2 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định vềphần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Đ 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tổ chức đánh bạc”, Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Trần Thị A mỗi bị cáo 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Trong hạn luật định, ngày 26/2/2025, 27/2/2025, 28/2/2025, các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, Trần Quang T có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo có đơn kháng cáo đều thừa nhận hành vi và tội danh như bản án sơ thẩm đã kết luận là đúng; giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt

5

và xin được hưởng án treo; riêng bị cáo T trình bày sửa đổi bổ sung kháng cáo xin được áp dụng hình phạt tiền cả 02 tội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trần Quang T và Nguyễn Thị Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm b, c khoản 1 Điều 322 BLHS; xét xử bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, Trần Quang T, Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Trần Thị A về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

+ Xét đơn kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, đại diện Viện kiểm sát cho rằng mức hình phạt 06 tháng tù đối với mỗi bị cáo là đúng; tuy nhiên xét đây là vụ án đồng phạm, số tiền mà mỗi bị cáo mang theo để đánh bạc đều không lớn, dưới mức định lượng theo quy định của pháp luật, chỉ riêng bị cáo Hồng T1 là có mang theo 5.720.000 đồng; các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chỉ riêng bị cáo Vinh T2 về nhân thân trước đây vào năm 2013 có 1 lần bị xét xử về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” nhưng đã được xóa án tích nhiều năm nay; trong qua trình điều tra và tại các phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình phải nuôi con chưa thành niên; xét hành vi phạm tội có mức độ, việc không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà áp dụng chế định án treo cho các bị cáo này được cải tạo giáo dục tại địa phương và ấn định cho các bị cáo một thời gian thử thách là thỏa đáng; do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị cáo này, giữ nguyên mức phạt tù nhưng cho hưởng án treo.

+ Riêng đối với kháng cáo của bị cáo Trần Quang T, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bị cáo Thanh phạm 02 tội, trong đó có 01 tội phạm nghiêm trọng là tội “Tổ chức đánh bạc” nên không đủ điều kiện được hưởng án treo hay phạt tiền; tuy nhiên, xét về hành vi “Tổ chức đánh bạc” bị cáo T chỉ là người đồng phạm giúp sức có vai trò không đáng kể cho vợ mình là bị cáo Nguyễn Thị Đ; ngoài hành vi đồng phạm về tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo T còn bị xét xử và xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc”, hiện bị cáo tuổi đã cao 68 tuổi, sức khỏe yếu, hoàn cảnh khó khăn, nên đề nghị chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo 06 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, riêng tội “Đánh bạc” giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 02/7/2024 vợ chồng bị cáo Nguyễn Thị Đ và Trần Quang T đã có hành vi sử dụng căn nhà tại địa chỉ K đường T, phường H, quận C, thành phố Đ

6

Nẵng ở và quản lý để cùng 1 lúc tổ chức cho 2 chiếu bạc đánh bạc với hình thức đánh phỏm thắng thua bằng tiền, gồm: Chiếu bạc 1 ở ngoài sân phơi tầng 2 có các người chơi là Trần Quang T, Trần Vinh T2, Trần Thị H2, Nguyễn Ú với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 9.713.000 đồng; chiếu bạc 2 tại phòng ngủ tầng 2 có các người chơi là Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Nguyễn Thị Hồng T1 và Trần Thị Á với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.170.000 đồng; quá trình điều tra xác định bị cáo Đ và bị cáo T là người quản lý căn nhà trên, mục đích tổ chức cho người khác đánh bạc là nhằm thu lợi bất chính bằng hình thức thu xâu và phục vụ thức ăn nước uống cho người chơi bài; bị cáo Đ cung cấp bàn nhựa, chăn mền, 4 ghế nhựa, 02 bộ bài tây và hộp nhựa có sẳn ít tiền lẻ để người chơi đổi tiền nộp xâu.

Kết quả điều tra khi bắt quả tang các bị cáo xác định:

- Tại chiếu bạc thứ 1: Nguyễn Út mang theo số tiền 2.405.000 đồng để đánh bạc; Trần Thị H2 đem theo số tiền là 3.618.000 đồng để đánh bạc; Trần Quang T sử dụng số tiền 2.700.000 đồng để đánh bạc; Trần Vinh T2 mang theo số tiền 1.010.000 đồng để đánh bạc; tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 9.713.000 đồng.

- Tại chiếu bạc thứ 2: Nguyễn Thị Thu H3 mang theo số tiền 2.200.000 đồng để đánh bạc; Phan Minh C mang theo số tiền 1.620.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Thị Hồng T1 mang theo số tiền 5.720.000 đồng để đánh bạc; Trần Thị A mang theo số tiền 480.000 đồng để đánh bạc; tổng số tiền sử dụng để đánh bạc tại chiếu này là 10.170.000 đồng.

Tiền xâu thu được tại 02 chiếu bạc là 160.000 đồng, tiền phục vụ thức ăn nước uống là 180.000 đồng, tiền lẻ chuẩn bị sẵn là 180.000 đồng.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xét xử vợ chồng bị cáo Trần Quang T và Nguyễn Thị Đ về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, b khoản 1 Điều 322 BLHS và xét xử các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, Trần Quang T, Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Trần Thị A về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Thị Thu H3, Phan Minh C, Trần Thị A không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị; riêng các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, Trần Quang T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

[2] Xét đơn kháng cáo của các bị cáonêu trên, HĐXX xác định: Hành vi của các bị cáo trong vụ án đã xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống lành mạnh ở khu dân cư, vi phạm pháp luật hình sự nên cần phải áp dụng chế tài hình sự để xử phạt nhằm cải tạo giáo dục các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2, mỗi bị cáo 06 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét đây là vụ án đồng phạm, số tiền mà tất cả các bị cáo sử dụng để đánh bạc ở cả 02 chiếu bạc là không lớn, số tiền mà các bị cáo mang theo để đánh bạc đều dưới mức định lượng

7

theo quy định của Điều luật, chỉ riêng bị cáo Hồng T1 là có mang theo 5.720.000 đồng để đánh bạc (bị cáo khai tại phiên tòa bao gồm cả tiền giá đỗ mới thu về); cách thức và số tiền ăn thua qua mỗi ván bạc là không lớn; các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chỉ riêng bị cáo Vinh T2 về nhân thân vào năm 2013 có 1 lần bị xét xử về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” nhưng đã được xóa án tích nhiều năm nay, chỉ mang 1.010.000 đồng để tham gia đánh bạc; trong qúa trình điều tra và tại các phiên tòa các bị cáo này đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình phải nuôi con chưa thành niên (bị cáo Hồng T1 có 03 con chưa thành niên; bị cáo H2 có 05 con trong đó có 02 con chưa thành niên); bị cáo Ú hiện đang bị bệnh lao, bị cáo Vinh T2 bị bệnh đái tháo đường; bị cáo Hồng T1 gia đình có thân nhân là ông Tống B1 là liệt sỹ, ông Tống Phước M1 tham gia cách mạng được tặng Huân chương quyết thắng hạng nhì; trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các bị cáo Hồng T1, H2 và Ú đã nộp tiền án phí của bản án sơ thẩm; xét hành vi phạm tội của các bị cáo là có mức độ, ít nghiêm trọng; việc không bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà áp dụng chế định án treo cho các bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương và ấn định cho các bị cáo một thời gian thử thách cũng đảm bảo tác dụng răn đe phòng ngừa và không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm này. Do đó, HĐXX chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2 được hưởng án treo.

Riêng đối với bị cáo Trần Quang T mặc dù tuổi đã cao, nhưng xét cùng một lúc phạm 02 tội, trong đó có 01 tội là tội phạm nghiêm trọng là tội “Tổ chức đánh bạc” nên không đủ điều kiện được hưởng án treo hay phạt tiền theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, do đó HĐXX không thể chấp nhận nguyện vọng kháng cáo của bị cáo được; tuy nhiên, xét về hành vi “Tổ chức đánh bạc” bị cáo T chỉ là người đồng phạm giúp sức có vai trò không đáng kể cho vợ mình là bị cáo Nguyễn Thị Đ nhưng cũng bị xử phạt 01 năm tù là nghiêm khắc; ngoài hành vi đồng phạm về tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo T còn bị xét xử và xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” (do thiếu người chơi nên là chủ nhà nhưng bị cáo vẫn tham gia), hiện bị cáo tuổi đã cao 68 tuổi, sức khỏe kém, có nhiều bệnh nền, hoàn cảnh khó khăn; trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đã nộp tiền án phí của bản án sơ thẩm; nên HĐXX chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giảm cho bị cáo một phần hình phạt về tội “Tổ chức đánh bạc”, riêng tội “Đánh bạc” giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

Ghi nhận trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Quang T, Trần Thị H2, Nguyễn Ú đã nộp xong mỗi bị cáo 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

8

[3] Do được chấp nhận kháng cáo, nên cả 5 bị cáo có kháng cáo đều không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị H2, Nguyễn Ú, Trần Vinh T2; sửa một phần Bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho các bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị H2, Nguyễn Ú, Trần Vinh T2 được hưởng án treo; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Quang T, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt về tội “Tổ chức đánh bạc” cho bị cáo T.

1.1. Căn cứ: Điểm a, b khoản 1 Điều 322; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt: Bị cáo Trần Quang T 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (S) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Quang T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 01 (Một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

1.2. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/5/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng T1 về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

1.3. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt: Bị cáo Trần Thị H2 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/5/2025).

Giao bị cáo Trần Thị H2 về Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

1.4. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

9

  • -Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Út 0 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/5/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Út V1 Ủy ban nhân dân phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

1.5. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt: Bị cáo Trần Vinh T2 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 31/5/2025).

Giao bị cáo Trần Vinh T2 về Ủy ban nhân dân phường T (nay là phường X), quận T, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

* Trong thời gian thử thách của án treo nếu người được hưởng án treo (Nguyễn Thị Hồng T1, Nguyễn Ú, Trần Thị H2, Trần Vinh T2) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/.Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị H2, Nguyễn Ú, Trần Vinh T5 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Tiếp tục quy trữ, tạm giữ số tiền 800.000 đồng theo các Biên lai thu tiền số 0002406, 0002408, 0002407, 0002405 đề ngày 30/5/2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để đảm bảo thi hành án phần án phí HSST cho các bị cáo Trần Quang T, Nguyễn Thị Hồng T1, Trần Thị H2, Nguyễn Út .

3/. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2025/HS-ST ngày 25/2/2025 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đ có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ,
  • - Công an quận Cẩm Lệ;
  • - PV27; PC81 Công an TP. Đà Nẵng;
  • - TAND quận Cẩm Lệ;
  • - THA DS quận Cẩm Lệ;
  • - Sở Tư pháp TPĐN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Minh Long

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HS-PT ngày 31/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 89/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quang Thanh và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger