|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2025/HS-PT Ngày: 28-05-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Nguyên
Ông Nguyễn Văn Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh An - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 61/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 115/2025/QĐXXPT-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Võ Văn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Văn T, sinh năm: 1975 tại tỉnh Bình Định; Nơi ĐKHKTT: Khu phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Thợ may; Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định. Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không. Con ông: Võ Văn Đ (Chết) và bà Trương Thị T1 (1953); Vợ: Trần Thị Thu V, sinh năm 1987; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2015;Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 29/3/2002, Võ Văn T bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 18 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong Bản án.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên Tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 ngày 19/6/2024, Võ Văn T đi bắt cua ở đồng ruộng thôn P, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Sau khi thả lồng cua ở ngoài ruộng, T ngồi nhậu tại bờ ruộng với Phạm Gia L, ở thôn P, xã M, huyện P. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, T nghỉ nhậu đi về. Khi đi ngang qua nhà ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1958, trú thôn P, xã M, huyện P thì T nhớ lại mâu thuẫn từ trước giữa T với gia đình ông T2. Triều dừng xe lại ở ngoài đường bê tông trước cổng phụ nhà ông T2 và to tiếng la chửi. Lúc này, gia đình ông T2 gồm: ông T2, bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1968 (vợ ông T2), Nguyễn Ngọc V1, sinh năm 1991 (con trai ông T2) đi ra la chửi lại với T.
Trong khi la chửi, T đẩy cổng phụ, đi vào trong sân vườn nhà ông T2. Thấy vậy, ông T2 nói “trói nó lại, báo Công an”. V1 đến đứng đối diện T, dùng hai tay ôm lấy người Triều. Lúc này, vợ của V1 (Nguyễn Thị T3, sinh năm 1992) và ông T2 đi đến nhà ông Bùi Văn C (Công an viên thôn P) báo cáo sự việc. Trong khi T bị Vũ ôm giữ thì T tiếp tục la nói và tung ra. Vũ ôm giữ, giằng co làm cả hai ngã xuống nền đất. Hai bên tiếp tục giằng co qua lại. V1 nắm giữ được hai tay của T kéo ra phía sau lưng Triều. V1 dùng hai tay của mình khống chế, khóa giữ T tại sân đất phía đông nhà ông T2.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, Công an viên thôn P và Công an xã M, huyện P đến thì Vũ thả Triều ra. Triều tiếp tục la chửi rồi chạy xe về nhà nói lại sự việc cho mẹ và vợ của T nghe. T cho rằng bị V1 đánh nên T bực tức và quay trở lại nhà của ông T2 tiếp tục la chửi. Khi đó, mẹ và vợ của T đến can ngăn, chở T về nhà. Thời điểm này, T không hợp tác làm việc nên Công an xã M chỉ lập biên bản vụ việc, không ghi nhận tình trạng thương tích của T, T cũng không trình báo về thương tích.
Sau khi về nhà, T bực tức đối với sự việc trên nên khoảng 03 giờ ngày 20/6/2024, T chạy xe đến trước nhà ông T2 tiếp tục la chửi thì mẹ và vợ của T đến chở T về nhà.
Đến khoảng 4 giờ ngày 20/6/2024, T tiếp tục chạy xe đến nhà ông T2. Trên đường đi đến đoạn đường ngang giao nhau với đường sắt thuộc thôn P xã M, T dừng xe lại nhặt nhiều viên đá đường tàu để trên xe và cầm trên tay chạy đến nhà ông T2. Lúc này, T đứng ngoài đường trước cổng chính nhà ông T2 tiếp tục la chửi và dùng đá ném vào nhà ông T2. Trong đó, có 2 cục đá trúng làm bể vỡ 02 ô kính cửa chính và 01 màn hình tivi hiệu LG đặt ở phòng khách nhà ông T2. Khi đó, mẹ và vợ của T đến can ngăn, đưa T về nhà. Sáng ngày 20/6/2024, Công an xã M mời Võ Văn T đến Công an xã làm việc. Tại đây, T trình bày, khoảng 23 giờ ngày 19/6/2024, T bị V1 dùng tay đánh nhiều cái vào vùng hông bên trái làm T bị đau ở vùng hông này. Qua kiểm tra bên ngoài, toàn thân Triều không có dấu vết thương tích, vùng hông bên trái của T không bị trầy xướt, sưng bầm nên Công an xã M hướng dẫn Triều đến khám tại cơ sở Y. Tuy vậy đến 8 giờ 15 phút ngày 21/6/2024, T mới đến Trung tâm Y tế huyện P khám, chụp Xquang và phát hiện T bị gãy 02 xương sườn số VII, VIII bên trái.
Ngày 14/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P có Kết luận định giá tài sản như sau:
Tài sản 1: 01 (một) tivi LG6340 (43inch), số model; 43UK6340PTF, ti vi được mua mới vào năm 2019, bị vỡ nứt màn hình, tài sản đã qua sử dụng. Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P đã tiến hành khảo sát giá thay mới màn hình. Thời điểm định giá tháng 6/2024, có giá 2.900.000 đồng.
Tài sản 2: 02 (hai) tấm kính cửa màu nâu xám, kích thước như nhau (70x40)cm, dày 4mm bị vỡ hoàn toàn, giá quy đổi (0,7x0,4)m = 0,28m2. Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P đã tiến hành khảo sát giá. Thời điểm định giá tháng 6/2024, có giá 250.000 đồng/m2 x (0,28m2 x 2 tấm) = 140.000 đồng.
* Tổng giá trị tài sản là: 3.040.000 đồng.
Ngày 26/9/2024, Trung tâm Pháp y tỉnh B có Bản kết luận giám định thương tích của Võ Văn T là: 04%.
Vật chứng thu giữ: 01 cái kéo bằng kim loại dài 28 cm, cán bọc băng keo nhựa màu nâu đỏ; 02 cục đá thu tại phòng khách nhà ông Nguyễn Văn T2, kích thước (9x7x4)cm và (7x6,5x4)cm; 09 cục đá thu tại sân nhà ông Nguyễn Văn T2 có kích thước không giống nhau, cục T4 nhất có kích thước (8x6x5)cm, cục nhỏ nhất có kích thước (4x3x2,5)cm.
Về dân sự: Ông T2 yêu cầu T bồi thường thiệt hại số tiền 3.040.000₫ nhưng T chưa khắc phục, bồi thường. Đối với việc T bị thương tích, T không yêu cầu bồi thường thiệt hại tại Cơ quan điều tra.
Quá trình điều tra bị cáo Võ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
Tuyên xử:
Tuyên bố Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn T 06 (sáu ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/03/2025, bị cáo Võ Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm: Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357; khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân giữa bị cáo và anh Nguyễn Ngọc V1 con ông Nguyễn Văn T2, nên khoảng 22 giờ ngày 19/6/2024, sau khi uống rượu, Võ Văn T đi ngang qua nhà ông Nguyễn Văn T2 ở thôn P, xã M, huyện P thì T dừng xe lại trước nhà to tiếng la chửi. Sau khi Công an xã M, huyện P đến làm việc thì T bỏ về. Đến khoảng 04 giờ sáng ngày 20/6/2024, T nhặt, mang theo nhiều viên đá đường tàu để trên xe và cầm trên tay chạy đến nhà ông T2. T đứng ngoài đường trước cổng chính nhà ông T2 la chửi và dùng đá ném vào nhà ông T2 làm bể vỡ 02 ô kính cửa chính và 01 màn hình tivi hiệu LG đặt ở phòng khách. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.040.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Võ Văn T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức rõ hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì để giải quyết mâu thuẫn cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác, điều đó thể hiện bị cáo là người xem thường kỹ cương, pháp luật của nhà nước. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt 06 tháng tù là tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo và cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới là bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Văn Tần số tiền 3.040.000đ và gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo. Áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, việc cho bị cáo hưởng án treo không đảm báo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung nên HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Võ Văn T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về phần hình phạt đối với bị cáo.
- Tuyên bố Bị cáo Võ Văn T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Võ Văn T. 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Võ Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Duy |
Bản án số 89/2025/HS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự phúc thẩm (cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Số bản án: 89/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hspt
