TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST Ngày 30 - 6 - 2025 V/v “Tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị N
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công D
Bà Trần Thị Mộng T
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Cao T - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn L - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 190/2025/TLST-HNGĐ ngày 08/4/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1999. Địa chỉ: 33/14 Ô, đường H, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1996. HKTT: Tổ 14, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy L trình bày:
Năm 2021, tôi và ông Trần Hữu Đ quen biết nhau trong một lần đi chơi chung. Sau một thời gian tìm hiểu, hai bên phát sinh tình cảm và muốn gắn bó lâu dài với nhau nên đến cuối năm 2023 chúng tôi đã đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 323/2023 ngày 12/12/2023. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Sau khi kết hôn thì chúng tôi tổ chức đám cưới và chuyển về nhà mẹ đẻ của tôi sống. Thời gian đầu chúng tôi chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng từ đầu năm 2025 đến nay thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do ông Đ có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Mặc dù tôi đã cho ông Đ cơ hội sửa chữa nhưng ông Đ không thay đổi nên mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng và không thể tìm được tiếng nói chung. Do đó từ tháng 2/2025 đến nay chúng tôi đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay nhận thấy tình cảm dành cho nhau không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Trần Hữu Đ.
+ Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Trần Tuệ N, sinh ngày 21/10/2024. Vì hiện nay cháu N còn nhỏ và đang sống cùng với tôi nên sau khi ly hôn thì tôi mong muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, tôi không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Trần Hữu Đ vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và không ai cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1 Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị Thúy L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Trần Hữu Đ nên xác định đây là “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Trần Hữu Đ có hộ khẩu thường trú tại tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
2 Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Trần Hữu Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nên căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
3 Xét đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy L, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Thúy L và ông Trần Hữu Đ có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L (nay là huyện L), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Giấy chứng nhận kết hôn số 323/2023 ngày 12/12/2023. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Bà L xác nhận thời gian đầu hai người chung sống hoà thuận, hạnh phúc nhưng từ đầu năm 2025 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Bà L cho rằng bà L đã nhiều lần tha thứ và cho ông Đ cơ hội sửa chữa nhưng ông Đ không thay đổi nên mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng và không tìm được tiếng nói chung. Do đó hai người đã sống ly thân từ tháng 2/2025 đến nay và không còn quan tâm tới nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo hoà giải, quyết định xét xử………vv cho ông Đ nhưng ông Đ không lên Toà làm việc và cũng không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà L. Vì vậy, xác định mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ là trầm trọng, tình cảm vợ chồng hiện nay không còn và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung:
Bà L xác nhận trong thời gian chung sống vợ chồng thì bà L và ông Đ có 01 con chung là cháu Trần Tuệ N, sinh ngày 21/10/2024. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, cháu N là con gái, đang sống cùng bà L và hiện nay cháu chưa đủ 36 tháng tuổi nên để bảo đảm cho sự phát triển ổn định của cháu thì Hội đồng xét xử giao cháu N cho bà L tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà L không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi cháu N nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung:
Do bà L không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà L phải chịu án phí theo quy định. Ông Đ không phải chịu.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thúy L về việc “Ly hôn” đối với ông Trần Hữu Đ.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy L được ly hôn với ông Trần Hữu Đ.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Tuệ N, sinh ngày 21/10/2024 cho bà Nguyễn Thị Thúy L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi trưởng thành. Ông Trần Hữu Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Trần Hữu Đ được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thúy L phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002412 ngày 08/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Bà L đã nộp đủ án phí.
Ông Trần Hữu Đ không phải chịu án phí sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (30/6/2025) lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với ông Trần Hữu Đ thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Long Đất; - CCTHADS huyện Long Đất; - UBND xã thị trấn Long Hải, huyện Long Đất, tỉnh BR-VT; (GCNKH số 323 ngày 12/12/2023); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị N |
Bản án số 89/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 89/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐẤT, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thúy L yêu cầu ly hônTrần Hữu Đ