|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST Ngày 29 – 5 – 2025 V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đại Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
- 2. Ông Bùi Trọng Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 874/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim L, sinh năm 1986 (Có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Số B Đ, phường T (Nay là phường T), thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nơi ở hiện nay: Số G N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Ông Trần Anh T, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số B Đ, phường T (Nay là Số B Đ, tổ dân phố F, phường T), thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên toà nguyên đơn bà Ngô Thị Kim L trình bày:
Tôi và ông Trần Anh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/4/2014.
Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn sự tin tưởng nhau, ông Trần Anh T không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng hay sinh ra cãi vã, xô xát nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh càng thẳng và kéo dài từ đó cho đến nay, chúng tôi đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông Trần Anh T nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Trần Anh T.
Về con chung: Tôi và ông Trần Anh T có 02 con là cháu Trần Anh M, sinh ngày 27/12/2009 và Trần Bảo N, sinh ngày 25/6/2014. Khi ly hôn nguyện vọng của tôi xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Anh M và Trần Bảo N đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi và ông Trần Anh T tự thỏa thuận giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tôi và ông Trần Anh T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra tôi không có ý kiến, yêu cầu gì khác.
- Đối với bị đơn ông Trần Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Trần Anh T vắng mặt không tham gia tố tụng.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về thẩm quyền giải quyết, xác định tư cách tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thụ lý vụ án đúng quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 195, 196, 203, 220 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Kim L.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim L được ly hôn với ông Trần Anh T.
Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Kim L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Anh M, sinh ngày 27/12/2009 và Trần Bảo N, sinh ngày 25/6/2014 cho đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung với bị đơn, đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; Bị đơn có địa chỉ tại thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn nhưng bị đơn không tham gia tố tụng, vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.
Tại phiên toà bị đơn vắng mặt nhưng đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do vậy Toà án tiến hành xét xử là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim L và ông Trần Anh T tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B ngày 15/4/2014, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Bà Ngô Thị Kim L xác định quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn sự tin tưởng nhau, ông Trần Anh T không quan tâm đến vợ con nên vợ chồng hay sinh ra cãi vã, xô xát nhau, đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Bà không còn tình cảm với ông Trần Anh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn ông Trần Anh T.
Kết quả xác minh tại địa phương xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Ngô Thị Kim L và ông Trần Anh T là do không nhường nhịn nhau nên hay cãi vã nhau, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy, thực tế mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Ngô Thị Kim L và ông Trần Anh T có xảy ra, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn. Bà Ngô Thị Kim L đã cương quyết xin ly hôn với ông Trần Anh T, vì vậy nếu kéo dài quan hệ hôn nhân thì không đạt được mục đích của hôn nhân. Do đó, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Ngô Thị Kim L, giải quyết cho bà Ngô Thị Kim L được ly hôn ông Trần Anh T.
- Về con chung: Bà Ngô Thị Kim L và ông Trần Anh T có 02 con là Trần Anh M, sinh ngày 27/12/2009 và Trần Bảo N, sinh ngày 25/6/2014. Khi ly hôn nguyện vọng của bà Ngô Thị Kim L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Anh M và Trần Bảo N đến tuổi trưởng thành.
Xét thấy nguyện vọng của đương sự, nguyện vọng của 2 con chung đều xin được ở với mẹ, các cháu hiện nay còn nhỏ và đang ở cùng bà Ngô Thị Kim L, đang trong độ tuổi phát triển tâm sinh lý. Để đảm bảo quyền nuôi con và tạo sự ổn định cuộc sống của con chung, cần giao cho bà Ngô Thị Kim L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Anh M và Trần Bảo N đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) là phù hợp quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ngô Thị Kim L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Thị Kim L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Bà Ngô Thị Kim L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị Kim L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim L được ly hôn với ông Trần Anh T.
- Về con chung: Giao cho bà Ngô Thị Kim L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Anh M, sinh ngày 27/12/2009 và Trần Bảo N, sinh ngày 25/6/2014 cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Ngô Thị Kim L không yêu cầu nên không giải quyết.
- Về án phí: Bà Ngô Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0012573 ngày 30/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Ông Trần Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Ngô Thị Kim L không yêu cầu nên không giải quyết.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đại Minh |
Bản án số 89/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 89/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGÔ THỊ KIM L-TRẦN ANH T LY HÔN
