Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 23-6-2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Tấn Dũng.
  2. Ông Nguyễn Thông Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Diệp Văn Hiếu Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 23/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2025/TLST-HNGĐ ngày 19/3/2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 116/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/5/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thúy V, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Có đơn xin vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Lê Văn C, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trương Thị Thúy V trình bày:

Bà Trương Thị Thúy V và ông Lê Văn C có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 11/11/2002. Vợ chồng không có con chung. Thời gian đầu sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân tương đối hòa thuận, tuy nhiên về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong lối sống. Việc chung sống không có con chung khiến tình

2

cảm vợ chồng ngày càng nhạt nhòa, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ năm 2005 đến nay, hai bên đã sống ly thân. Trong suốt thời gian đó, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và không có bất kỳ sự hàn gắn nào. Nay bà V yêu cầu được ly hôn với ông C. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với ông Lê Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông C không đến Tòa án tham gia phiên hòa giải và xét xử cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về tố tụng từ khi thụ lý vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ lý giải quyết vụ án theo đúng các quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho bà V được ly hôn với ông C. Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: Không ai yêu cầu giải quyết, nên Kiểm sát viên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nguyên đơn bà Trương Thị Thúy V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lê Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên Tòa án tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Trương Thị Thúy V và ông Lê Văn C là hợp pháp, được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 11/11/2002, phù hợp quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà V, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ngoài ra, vợ chồng không có con chung, dẫn đến tình cảm ngày càng phai nhạt, đời sống chung không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà V và ông C đã ly thân từ năm 2005 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cũng không có sự hàn gắn nào trong suốt thời gian ly thân.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông C để tiến hành hòa giải và xét xử, nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thể hiện sự thiếu thiện chí trong việc hàn gắn quan hệ vợ chồng.

3

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

[4] Về con chung: Bà V trình bày không có con chung với ông C, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà V trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông C không có văn bản ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.

[7] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Thúy V. Cho bà Trương Thị Thúy V được ly hôn với ông Lê Văn C.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trương Thị Thúy V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014661 ngày 19 tháng 3 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Ngự.

4

  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Hồng Ngự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc
  • đăng ký kết hôn (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đặng Quốc Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn

  • Số bản án: 89/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger