|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 89/2025/HNGĐ - ST. Ngày: 20/3/2025 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Bảo Long.
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thế Ngọc
Ông Hoàng Văn Long
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Chử Thị Kim Quy - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 467/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 33/2025/QÐST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc Á – sinh năm 1994; Nơi thường trú: TDP Cơ khí Y, huyện G, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Nhà G Tập thể Z179 xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Mai Hiếu T – sinh năm 1989; Nơi thường trú: Số A ngõ H T, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Nhà G Tập thể Z179 xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải tại Tòa án nguyên đơn – Chị Trần Thị Ngọc Á trình bày:
1. Về tình cảm:
Chị và anh Mai Hiếu T có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội ngày 28/01/2021 trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn một thời gian, cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, anh chị đã tìm nhiều cách khắc phục nhưng không giải quyết được mâu thuẫn, hai bên gia đình hòa giải nhưng không đạt được kết quả gì. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên làm đơn xin được ly hôn với anh T.
2. Về con chung:
Anh chị có 02 con chung là cháu Mai Thùy D, sinh ngày 04/9/2022 và cháu Mai Thùy C, sinh ngày 06/11/2024. Sau ly hôn chị Á có nguyện vọng là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cả hai con chung, yêu cầu anh Trung cấp D1 nuôi con chung là 3.000.000 đồng/ tháng (ba triệu đồng mỗi thang).
3. Về tài sản, nợ chung và nhà, đất: Anh chị tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị tự nguyện nộp án phí theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa chị Trần Thị Ngọc Á về cơ bản vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã trình bày trong quá trình tham gia tố tụng trước đây. Chị trình bày, trong quá trình Toà án giải quyết vụ án chị có sinh thêm cháu thứ hai là cháu Mai Thùy C, sinh ngày 06/11/2024, chị đã nộp giấy khai sinh của cháu cho Toà án. Chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Mai Hiếu T và có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Mai Thùy D và cháu Mai Thùy C. Do anh T không hợp tác trong việc ly hôn, không đến Tòa án trình bày nguyện vọng và chứng minh khả năng điều kiện nuôi con nên chị quyết định không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con nữa.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần tuy nhiên anh Mai Hiếu T vắng mặt không có lý do, không có văn bản ý kiến gửi Toà án và cũng không có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết và xét xử vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử
1. Về tố tụng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70,72 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về phiên toà sơ thẩm (Điều 223, Điều 224, Điều 225 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015); Đảm bảo nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật theo Điều 12 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Thành phần Hội đồng xét xử đã đảm bảo theo đúng quy định tại Điều 63 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
2. Về nội dung vụ án:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 262 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Chị Trần Thị Ngọc Á. Chị Trần Thị Ngọc Á được ly hôn với anh Mai Hiếu T.
Về con chung: giao 02 con chung là cháu Mai Thùy D, sinh ngày 04/9/2022 và cháu Mai Thùy C, sinh ngày 06/11/2024 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc vì các cháu đều còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi, cần có sự chăm sóc của mẹ. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Mai Hiếu T đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản, nợ chung và nhà, đất chung: Anh chị không có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: chị Á phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án, qua trao đổi với ông Bùi Thọ V Tổ trưởng tổ dân phố Z, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội được biết chị Trần Thị Ngọc Á và anh Mai Hiếu T mới mua nhà về sinh sống, cư trú tại địa chỉ: số G tổ dân phố Z, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội từ khoảng cuối năm 2024 nhưng chưa khai báo việc tạm trú, tạm vắng. Vì vậy Toà án xác định nơi cư trú của bị đơn anh Mai Hiếu T là tại: nhà G Tập thể Z xã T, huyện T, Hà Nội. Anh Mai Hiếu T có đăng ký địa chỉ thường trú tại số A ngõ H đường T, thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn anh Mai Hiếu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, tống đạt các văn bản tố tụng cho mẹ đẻ anh ở cùng nhà là bà Nguyễn Thị K để giao cho anh. Tuy nhiên anh T vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến, không có đơn xin xét xử vắng mặt gửi Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì tiến hành xét xử vắng mặt anh Mai Hiếu T là đúng theo quy định tại điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa chị Trần Thị Ngọc Á và anh Mai Hiếu T là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V, huyện T, thành phố Hà Nội.
Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã xác định vợ chồng chị Trần Thị Ngọc Á và anh Mai Hiếu T trong cuộc sống hôn nhân có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, lối sống không phù hợp, thiếu sự tôn trọng dành cho đối phương, hai bên không tìm được tiếng nói chung và thiếu sự quan tâm, chia sẻ, tình cảm vợ chồng có rạn nứt, không thể hàn gắn.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh T đến để trình bày ý kiến, tham gia hòa giải. Anh T mặc dù biết Toà án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị Á nhưng vẫn vắng mặt tại buổi hòa giải và cũng không có bất kì ý kiến, nguyện vọng nào.
Việc anh T không có mặt theo giấy triệu tập của tòa án để tham gia tố tụng, thể hiện việc anh không có sự quan tâm cần thiết đến cuộc sống hôn nhân và không có ý thức vun đắp, hàn gắn, xây dựng hạnh phúc gia đình. Xét thấy mục đích hôn nhân giữa chị Trần Thị Ngọc Á và anh Mai Hiếu T không đạt được khiến cho mâu thuẫn giữa anh, chị ngày càng trầm trọng và hôn nhân không thể tiếp tục.
Nay chị Trần Thị Ngọc Á có đơn xin ly hôn với anh Mai Hiếu T, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung:
Chị Trần Thị Ngọc Á và anh Mai Hiếu T có 02 con chung là cháu Mai Thùy D, sinh ngày 04/9/2022 và cháu Mai Thùy C, sinh ngày 06/11/2024 hiện đang ở cùng với mẹ.
Chị Á hiện đang làm kỹ thuật viên xét nghiệm tại Bệnh viện M, thu nhập khoảng 20 triệu đồng/tháng, có đầy đủ điều kiện nuôi con và đảm bảo được sự phát triển ổn định, toàn diện của cháu. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh T không trình bày nguyện vọng nuôi con, không có mặt tại phiên tòa cũng như không xuất trình các tài liệu chứng cứ để chứng minh khả năng và điều kiện nuôi con.
Các cháu Mai Thùy D và Mai Thùy C còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi lại là con gái, hiện đang ở với mẹ, Hội đồng xét xử thấy giao cả hai cháu cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, nợ chung và nhà, đất: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về án phí: Chị Á phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: chị Á và anh T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án Ban hành kèm theo.
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc Á.
2. Chị Trần Thị Ngọc Á được ly hôn với anh Mai Hiếu T.
3. Về con chung: Giao con chung là cháu Mai Thùy D, sinh ngày 04/9/2022 và cháu Mai Thùy C, sinh ngày 06/11/2024 cho chị Trần Thị Ngọc Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc đóng tiền cấp dưỡng nuôi con cho anh Mai Hiếu T đến khi con chung trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
Anh Mai Hiếu T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
4. Về tài sản, nợ chung và nhà, đất: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
5. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc Á phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0056308 ngày 17/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Ngọc Á có mặt có quyền kháng cáo trong thời 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Mai Hiếu T vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bảo sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
Bản án số 89/2025/HNGĐ - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 89/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Ngọc Á.
