|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 03 - 2025
V/v: "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Xuân Thường,
Ông Võ Duy Bảo.
- Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: không.
Ngày 10 tháng 3 năm 2025, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025 về "tranh chấp hôn nhân và gia đình", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 101/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Bùi Thị L, sinh ngày 23/07/1994; nơi thường trú: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: G G, P, W, Hoa Kỳ; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Lê Văn D, sinh ngày 06/08/1991; nơi thường trú: xóm D, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: room 339, 100 C, W, W, Hoa Kỳ; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Bùi Ngọc D1, sinh năm 1968; địa chỉ: xóm D, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai (có chứng thực của Đ tại Hoa Kỳ), nguyên đơn – chị Bùi Thị L trình bày: chị L và anh Lê Anh D2 kết hôn với nhau vào ngày 07/10/2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến tháng 02/2024, chị L, anh D2 đều chuyển sang Hoa Kỳ sinh sống và làm việc. Tuy cùng sinh sống ở Hoa Kỳ nhưng mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm tới ai; vợ chồng không có điều kiện gần gũi, chia sẻ, quan tâm nhau và không còn cách nào để hàn gắn mâu thuẫn. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị L khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Bùi Thị L ly hôn anh Lê Anh D2.
Về con chung: chị L, anh D2 có 02 con chung là Lê Mạnh T, sinh ngày 14/12/2019 và Lê Ngọc Thủy T1, sinh ngày 24/05/2022; hiện các con đang ở cùng ông ngoại là ông Bùi Ngọc D1, sinh năm 1968; địa chỉ: xóm D, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị L đề nghị Toà án giao 02 con chung cho chị L trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và đề nghị Toà án tạm giao các con chung cho ông Bùi Ngọc D1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị L ở nước ngoài; khi về nước chị sẽ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do hiện nay chị L đang sống và làm việc tại Hoa Kỳ, không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án trên vắng mặt chị L; chị L uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn S, địa chỉ liên hệ: số I T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội thay mặt chị nhận các văn bản tố tụng do Tòa án gửi và nộp các văn bản, tài liệu cho Tòa án.
Tại Bản tự khai (có chứng thực của Đ tại Hoa Kỳ), bị đơn – anh Lê Văn D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh Lê Văn D thống nhất về thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng như chị L trình bày; đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị L.
Về con chung: anh D, chị L có 02 con chung, hiện đang ở cùng bố đẻ của chị L là ông Bùi Ngọc D1 như chị L khai. Nếu ly hôn, anh D nhất trí nguyện vọng và đề nghị của chị L1 trên; đề nghị Tòa án giao 02 con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; đề nghị tạm giao cháu T và cháu Thủy T1 cho ông D1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị L về nước.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết thì anh D đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung: anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Dũng đang ở sinh sống và làm việc tại Hoa Kỳ, không thể có mặt để giải quyết việc ly hôn nên xin được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp và xét xử tại Toà án. Anh uỷ quyền cho ông Trần Mạnh C; địa chỉ: thôn P, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, thay mặt anh nhận các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt. Anh Dũng xin được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp và xét xử tại Toà án.
Tại đơn trình bày ý kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Bùi Ngọc D1 trình bày:
Ông là bố đẻ của chị Bùi Thị L. Chị Bùi Thị L và anh Lê Văn D kết hôn với nhau từ năm 2016. Vợ chồng chị L anh D có 02 con chung là cháu Lê Mạnh T, sinh ngày 14/12/2019 và cháu Lê Ngọc Thủy T1, sinh ngày 24/05/2022. Từ khi chị L, anh D đi nước ngoài đến nay thì ông D1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và cháu T1. Nếu chị L, anh D ly hôn, ông đồng ý tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T và cháu T1 đến khi chị L về nước; không yêu cầu chị L, anh D trả tiền công chăm sóc, nuôi dưỡng và hoàn trả chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu. Ông D1 đề nghị được vắng mặt tất cả các buổi làm việc, phiên họp và xét xử tại Toà án và uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn S, địa chỉ liên hệ: số I T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội thay mặt ông nhận các văn bản tố tụng do Tòa án tống đạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: vụ án "tranh chấp hôn nhân và gia đình" giữa chị Bùi Thị L và anh Lê Văn D, trong đó chị L và anh D cùng có hộ khẩu thường trú tại: xóm D, xã D (nay là xã H), huyện D, tỉnh Nghệ An. Chị L, anh D hiện nay đều đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài (có chứng thực của Đ tại Hoa Kỳ) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát: vụ án không có tranh chấp con chung, tài sản chung và Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát không phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị được vắng mặt tất cả các phiên làm việc, phiên họp, phiên xét xử tại Toà án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – chị Bùi Thị L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Thị L và anh Lê Văn D kết hôn với nhau vào ngày 07/10/2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D (nay là xã H), huyện D, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Đến tháng 02/2024, chị L, anh D đều chuyển sang Hoa Kỳ sinh sống và làm việc. Tuy cùng sinh sống ở Hoa Kỳ nhưng mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm tới ai; vợ chồng không có điều kiện gần gũi, chia sẻ, quan tâm nhau và không còn cách nào để hàn gắn mâu thuẫn. Chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn thì anh D đồng ý. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị L, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị L và anh Lê Văn D theo quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao.
[4.2] Về con chung: chị L, anh D có 02 con chung là cháu Lê Mạnh T, sinh ngày 14/12/2019 và cháu Lê Ngọc Thủy T1, sinh ngày 24/05/2022, hiện các cháu đang sống cùng ông Bùi Ngọc D1, tại xóm D, xã H, huyện D, tỉnh Nghệ An. Ly hôn, chị L và anh D đều đề nghị Toà án giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành và đề nghị Tòa án tạm giao cháu T, cháu Thủy T1 cho ông D1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị T2 ở nước ngoài. Ông D1 đồng ý và không yêu cầu giải quyết, trả chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu.
Sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con chưa thành niên và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84, 104 Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị L, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
[4.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị L, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết, miễn xét.
[5] Về án phí: chị L, anh D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 207; Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 3, Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị L và anh Lê Văn D.
- Về con chung: giao 02 con chung là Lê Mạnh T, sinh ngày 14/12/2019 và Lê Ngọc Thủy T1, sinh ngày 24/05/2022 cho chị Bùi Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Do chị L đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu Lê Mạnh T và cháu Lê Ngọc Thủy T1 cho ông Bùi Ngọc D1 chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị L trở về Việt Nam.
-
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
Anh Lê Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Không ai được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi phạm thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về chi phí nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê Mạnh T và cháu Lê Ngọc Thủy T1: Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Án phí: chị Bùi Thị L phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí (do ông Nguyễn Văn S nộp thay) tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013855 ngày 08/01/2025; anh Lê Văn D phải chịu 75.000 (bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 89/2025/HNGĐ-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 89/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị L và anh Lê Văn D.
