|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2025/DS-ST
Ngày: 17/6/2025
V/v “Tranh chấp đòi tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
2. Bà Nguyễn Thị Bích Liễu
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Vạn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Lâm Thúy Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 599/2024/TLST–DS ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2025/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng H, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Số C ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Có mặt
- Bị đơn: Bà Đinh Thị L, sinh năm: 1978; Địa chỉ: số A khu phố C, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Võ Thị Thu N, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Hoàng H đại diện trình bày:
Khoảng đầu tháng 4/2023, ông H được bà Ngọc H1 (môi giới khu vực T, Tây Ninh) giới thiệu bà Đinh Thị L có mong muốn chuyển nhượng thửa đất số 645, tờ bản đồ số 27, diện tích 299,6m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Do ông H thấy giá hợp lý, có thể đầu tư nên ngày 07/4/2023, ông H và bà L thực hiện việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa 645, tờ bản đồ số 27, diện tích 299,6m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, theo hợp đồng công chứng số 2412, quyển số 04/2023.TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng C tỉnh Tây Ninh với giá chuyển nhượng là 650.000.000 đồng.
Sau khi thực hiện việc chuyển nhượng, ông H đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật đối với các cơ quan nhà nước. Ngày 30/6/2023, ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số VP11664, số vào sổ CS08542. Ông H yêu cầu bà L và bà N thực thực hiện việc bàn giao tài sản thì bà N và bà L liên tục hẹn ngày bàn giao và sao đó mất liên lạc. Lúc ông H đến nơi yêu cầu bàn giao nhà, đất thì mới nghe bà N và bà L đã nhận cầm cố thửa đất trên từ bà Trần Huỳnh Thiên T chứ bà L không phải là chủ thửa đất. Bà T cũng không có chứng cứ để chứng minh việc đó nên ông H đã bảo bà T nên đi khởi kiện và ông H chờ kết quả giải quyết của Tòa án.
Ngày 20/9/2024, theo bản án phúc thẩm số 482/2024/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa 645, tờ bản đồ số 27, diện tích 299,6m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giữa ông H với bà L vô hiệu. Tại cấp phúc thẩm, ông H không yêu cầu giải quyết hậu quả khi hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông H và bà L vô hiệu. Nay ông H khởi kiện, yêu cầu bà L hoàn trả cho ông H số tiền đã nhận là 650.000.000 đồng.
Bị đơn bà Đinh Thị L không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thu N trình bày:
Vào ngày 07/3/2023, bà N có cho bà L mượn số tiền là 430.000.000 đồng để trả vào Ngân hàng TMCP K – Chi nhánh T1 để mang quyền sử dụng đất về Văn phòng C1 huyện T để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông H. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện, bà N có nhận lại số tiền 430.000.000 đồng từ ông H tại nhà ông H.
Tại phiên tòa:
- Ông H yêu cầu bà L trả lại số tiền 650.000.000 đồng và lãi suất theo quy định pháp luật tính từ ngày 07/4/2023 cho tới ngày xét xử.
- - Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh:
- + Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục phiên tòa sơ thẩm.
- + Về nội dung: Căn cứ Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H; buộc bà L trả cho ông H số tiền là 650.000.000 đồng. Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông H khởi kiện bà L yêu cầu Tòa án giải quyết về việc tranh chấp tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị Tòa án tuyên vô hiệu nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà L cư trú tại thị xã H nên Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn bà L được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N có đơn xin vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà N.
[2] Về nội dung khởi kiện ông H yêu cầu bà L trả lại số tiền 650.000.000 đồng mà ông H thanh toán tiền chuyển nhượng nhà, đất đối với thửa 645, tờ bản đồ số 27, diện tích 299,6m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh giữa ông H với bà L do hợp đồng chuyển nhượng bị Tòa án tuyên vô hiệu.
Qua lời trình bày của ông H, các chứng cứ ông H nộp thể hiện:
Ngày 19/01/2022, bà Trần Huỳnh Thiên T chuyển nhượng giả cách cho bà N thửa 645, tờ bản đồ số 27, diện tích 299,6m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với nội dung bà N được đứng tên phần đất này trong thời hạn 02 năm, bà T được nhận chuyển nhượng lại sau 01 năm và hàng tháng bà T phải đóng tiền lãi cho bà N.
Ngày 20/01/2022, bà T ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà L với giá ghi trong hợp đồng là 100.000.000 đồng; hợp đồng công chứng tại Văn phòng C2.
Ngày 07/4/2024, bà L ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông H, nội dung thể hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất đối với thửa 645, tờ bản đồ số 27, diện tích 299,6m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với giá 650.000.000 đồng.
Sau khi bà L chuyển nhượng cho ông H thì bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên tất cả các hợp đồng chuyển nhượng đối với thửa đất nêu trên là vô hiệu.
Bản án dân sự phúc thẩm số 482/2024/DS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L với ông H là vô hiệu. Ghi nhận việc ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
[2.1] Xét chứng cứ ông H nộp cho Tòa án là Biên bản giao nhận tiền ngày 07/4/2023 giữa H và L, bản đánh máy có nội dung bà L bằng văn bản này xác nhận đã nhận đủ số tiền là 650.000.000 đồng theo hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất thửa số 645, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, chữ ký bên giao Lê Hoàng H và bên nhận Đinh Thị L đều viết bằng tay bằng mực màu xanh. Ngoài ra trên tờ Biên bản giao nhận tiền còn có nội dung “Tôi tên Võ Thị Thu N có nhận đúng số tiền 430.000.000 (bốn trăm ba mươi triệu)” và ký tên Võ Thị Thu N.
Bà L không có ý kiến gì đối với chứng cứ ông H nộp tại Tòa án là Biên bản giao nhận tiền. Quá trình làm việc, ông H khai giao nhận tiền tại nhà ông H. Bà N là người có liên quan cũng có lời trình bày phù hợp với lời khai của ông H là ông H giao tiền cho bà L tại nhà ông H và tại đây bà N được nhận lại 430.000.000 đồng mà bà L vay của bà N để trả khoản vay tín dụng tại Ngân hàng TMCP K có thế chấp bằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 645, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. do đó, có căn cứ xác định ngày 07/4/2023, bà L đã nhận tiền thanh toán chuyển nhượng thửa đất số 645, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh từ ông H, số tiền đã nhận là 650.000.000 đồng.
[2.2] Xét yêu cầu của ông H đòi bà L trả lại số tiền đã nhận: Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H và bà L đã bị Tòa án tuyên vô hiệu theo quy định tại Điều 123 của Bộ luật dân sự 2015 nên căn cứ Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015 để giải quyết hậu quả. Theo quy định tại Điều 131 của Bộ luật dân sự 2015 thì khi hợp đồng vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường. Bà L đã nhận của ông H 650.000.000 đồng nên phải trả lại.
[2.3] Xét yêu cầu của ông H về việc yêu cầu bà L trả tiền lãi số tiền 650.000.000 đồng tính từ ngày 07/4/2023 tới ngày xét xử theo mức lãi suất cơ bản chậm trả vì cho rằng bà L có lỗi. Lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 là 10%/ năm, số tiền lãi ông H yêu cầu bà L trả là 650.000.000 đồng x 10%/năm x 26 tháng 10 ngày = 142.639.000 đồng.
Trong vụ án này, trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai ông H không yêu cầu bồi thường, chỉ yêu cầu bà L trả lại số tiền đã nhận. Tại phiên tòa, ông H yêu cầu bà L bồi thường thiệt hại bằng hình thức tính lãi số tiền đã nhận theo mức lãi suất cơ bản chậm trả do bà L có lỗi, xét thấy bà L có lỗi không trung thực, ông H có lỗi không tìm hiểu kỹ về thực trạng thửa đất khi chuyển nhượng; tại phiên tòa ông H trình bày khi mua có tới xem, thấy có người khác sử dụng nhưng không tìm hiểu kỹ, chỉ nói là người thuê nhà đang làm dịch vụ vá, sửa xe vì vậy lỗi của bà L1 và ông H đều như nhau nên việc yêu bồi thường của ông H là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H. Buộc bà L trả lại cho ông H số tiền 650.000.000 đồng, không chấp nhận số tiền lãi.
[3] Án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông H được chấp nhận một phần nên bà L phải chịu án phí trên số tiền phải trả, thành tiền là 30.000.000 đồng, ông H phải chịu án phí trên số tiền lãi không được chấp nhận, thành tiền là 7.132.000 đồng án phí theo quy định.
[4] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành về nội dung giải quyết vụ án có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 131 của Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng H đối với bà Đinh Thị L về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Buộc bà Đinh Thị L có nghĩa vụ trả cho ông Lê Hoàng H số tiền 650.000.000 đồng (sáu trăm năm mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nợ, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Hoàng H phải chịu 7.132.000 ( bảy triệu một trăm ba mươi hai nghìn) đồng, được trừ vào tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011846 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, ông H còn phải tiếp tục nộp 6.832.000 (sáu triệu tám trăm ba mươi hai nghìn) đồng.
Bà Đinh Thị L phải chịu 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Thị Thanh Hoa |
Bản án số 89/2025/DS-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 89/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Huy yêu cầu bà Loan trả lại số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã nhận do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị tuyên vô hiệu
