Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/DS-ST

Ngày: 16-4-2025

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ngân và bà Trần Ngọc Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thi- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 810/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐST-DS ngày 06/3/2025 và quyết định hoãn phiên toà số: 25/2025/QĐST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty cổ phần M (JUPITER).

Địa chỉ trụ sở: Tầng A, tòa nhà C, số B phố T, phường Y, Cầu G, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Anh T – chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: anh Ngô Minh C, sinh năm 1998– chức vụ: chuyên viên xử lý nợ - Công ty cổ phần M (văn bản ủy quyền số 29804/2025/UQ-XLN-JUPITERMN ngày 14/4/2025). Địa chỉ liên hệ: tầng 7, tòa nhà C, số nhà D, N, phường B, Quận C, thành phố Hồ chí Minh (có mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Quốc V, sinh năm 1986, nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Trịnh Thị Cẩm N, sinh năm 1990, nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  • + Dịch vụ cầm đồ Hồng Ánh, địa chỉ 226 (số cũ), A P, phường E, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 22/11/2024, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Trần Minh T1 trình bày:

Ngày 21/3/2022, Ngân hàng TMCP V1 (V2) – chi nhánh C1 có ký với ông Huỳnh Quốc V hợp đồng tín dụng số LN2202285275841, số tiền vay 460.000.000 đồng, thời hạn 96 tháng, mục đích vay mua xe ô tô, lãi suất 9%/năm, trả lãi và vốn định kỳ vào ngày 21 hàng tháng, lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả không quá 10%/năm trên số dư lãi chậm trả. Để đảm bảo khoản vay, ông Huỳnh Quốc V, bà Trịnh Thị Cẩm N cùng ký tên vào hợp đồng thế chấp số LN2202285275841 ngày 21/3/2022, tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát 67A-197.75, số khung: MHYANC22SMJ915971, số máy: K15BT1321663, màu sơn cam, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 67008757 do Công an tỉnh A cấp ngày 23/3/2022 đứng tên Huỳnh Quốc V. Sau khi vay, ông V không thực hiện trả vốn và lãi nên đã chuyển nợ quá hạn kể từ ngày 15/02/2023.

Ngày 12/01/2024, ông V bà N đã ly hôn có bản án của Toà án huyện P. Quá trình thụ lý vụ án ly hôn, toà án có thông báo cho V2, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết nhưng V2 chưa thực hiện thủ tục khởi kiện nên về khoản nợ của ông V, bà N vẫn chưa giải quyết. Toàn bộ khoản nợ của ông V đã được V2 bán cho Công ty TNHH M1 (GALAXY) theo hợp đồng mua bán nợ số 3-30/6/2023/GLX-VPB ngày 30/6/2023 (kèm phụ lục ngày 01/12/2023). Ngày 12/7/2024, GALAXY đã bán khoản nợ của ông V cho Công ty cổ phần M (JUPITER) theo hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER (kèm phụ lục số 02). Chuyển giao toàn bộ quyền chủ nợ đối với khoản nợ đã mua và quyền đối với tài sản bảo đảm. Yêu cầu ông Huỳnh Quốc V, bà Trịnh Thị Cẩm N phải liên đới thanh toán cho JUPITER số tiền tổng cộng 592.115.357 đồng gồm nợ gốc 412.070.476 đồng và tiền lãi 180.044.881 đồng tính đến ngày 03/01/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ nói trên. Trường hợp ông V bà N không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì JUPITER có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự kê biên phát mại toàn bộ tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số LN2202285275841 ngày 21/3/2022.

Tại phiên toà, anh Ngô Minh C đại diện theo uỷ quyền của JUPITER rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Trịnh Thị Cẩm N về trách nhiệm liên đới trả nợ. Do hợp đồng tín dụng chỉ có một mình ông V ký tên vay nên chỉ yêu cầu ông V thanh toán cho JUPITER số tiền 617.775.736 đồng gồm vốn gốc 412.070.476 đồng và tiền lãi 205.685.260 đồng tính đến ngày 16/4/2025, tiếp tục tính lãi phát sinh theo thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ nói trên. Ông V khai tài sản thế chấp đã đem cầm cố cho dịch vụ cầm đồ Hồng Ánh, JUPITER chưa tìm đến địa chỉ của dịch vụ cầm đồ Hồng Ánh nên không xác thực lời khai của ông V có đúng không và hiện nay cũng không rõ tài sản đang ở đâu. JUPITER có đơn đề nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để làm rõ hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của ông Huỳnh Quốc V, nay rút lại đơn đề nghị, chỉ yêu cầu ông V trả tiền vay và phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 03/01/2025, quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Quốc V trình bày:

Ngày 21/3/2022, ông V có vay tiền của V2 – chi nhánh C1 số tiền 460.000.000 đồng, mục đích để mua xe ôtô và có thế chấp xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát 67A-197.75, số khung: MHYANC22SMJ915971, số máy: K15BT1321663 thuộc quyền sở hữu của ông và bà Trịnh Thị Cẩm N. Số tiền vay mua xe để phục vụ chung cho sinh hoạt gia đình của vợ chồng. Khi vay tiền thì ông và bà Trịnh Thị Cẩm N vẫn còn là vợ chồng, nên bà N đồng ý cùng ký tên vào hợp đồng thế chấp tài sản đối với xe ô tô nói trên. Khi toà án thụ lý vụ án ly hôn, ông có trình bày có nợ ngân hàng V2 nhưng do ngân hàng chưa khởi kiện và ông không cung cấp được thông tin tài sản nên các vấn đề về tài sản chung và nợ chung chưa được giải quyết. Ngày 12/01/2024, đã có bản án ly hôn số 19/2024/HNGĐ-ST của Toà án nhân dân huyện Phú Tân. Việc mua bán nợ giữa V2 với GALAXY và JUPITER thì ông không có ý kiến, nhưng số tiền nợ gốc chỉ còn khoảng 350.000.000 đồng, các lần trả tiền cho V2 đều thông qua hình thức chuyển khoản, sẽ cung cấp sao kê cho toà án trong hạn 15 ngày, đồng thời yêu cầu JUPITER cung cấp bảng chiết tính tiền gốc và lãi đến thời gian 15/02/2023 để chứng minh tiền vốn gốc 412.070.476 đồng. Vì làm ăn thua lỗ nên tự chịu trách nhiệm trả nợ, không yêu cầu bà Trịnh Thị Cẩm N liên đới. Chiếc xe nói trên đã cầm cố cho dịch vụ cầm đồ Hồng Á (địa chỉ 226 (số cũ), A P, phường E, Quận H, TP Hồ Chí Minh), đóng lãi được 03 tháng thì xin chuộc lại nhưng không được, dịch vụ cầm đồ nói đã bán cho người khác, hiện nay không biết xe đang ở đâu.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 03/3/2025 và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị Cẩm N trình bày:

Bà với ông Huỳnh Quốc V đã ly hôn có bản án ngày 12/01/2024. Khi ly hôn, bà và ông V không tranh chấp về tài sản chung và nợ chung không có. Trong thời gian ly thân, bà không biết ông V vay tiền. Việc bà ký tên hợp đồng thế chấp số LN2202285275841 ngày 21/3/2022 là do sơ suất, không đọc kỹ giấy tờ trước khi ký, vì nhân viên bán xe nói bà còn chung hộ khẩu với ông V nên phải ký tên để ông V làm thủ tục đăng ký biển số xe, không liên quan đến việc trả tiền mua xe. Chiếc xe ô tô nói trên là tài sản riêng của ông V vì ông V vay tiền (nợ riêng) để mua xe chạy dịch vụ, sử dụng cho mục đích cá nhân, mỗi tháng ông V tự trả nợ, không đồng ý chịu trách nhiệm liên đới trả nợ cho JUPITER. Đồng ý phát mại chiếc xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát 67A-197.75 đứng tên ông V, bà không tranh chấp gì đối với xe ô tô này.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dịch vụ cầm đồ Hồng Ánh: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu ý kiến:

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông V, người liên quan dịch vụ cầm đồ Hồng Á đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tham dự phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Trịnh Thị Cẩm N về trách nhiệm liên đới trả tiền vay là tự nguyện, nên đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Huỳnh Quốc V phải trả cho Công ty cổ phần M số tiền số tiền 617.775.736 đồng gồm tiền vốn gốc 412.070.476 đồng, tiền lãi 205.685.260 đồng tính đến ngày 16/4/2025 và lãi phát sinh cho đến khi thi hành án xong số tiền phải thanh toán. Trường hợp ông V không trả nợ thì JUPITER có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp số LN2202285275841 ngày 21/3/2022 để thu hồi nợ. Ông V phải chịu án phí đối với số tiền phải thanh toán theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay phát sinh từ hợp đồng tín dụng, mục đích vay thanh toán tiền mua xe ô tô, nên đây là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Phú Tân theo điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông V và dịch vụ cầm đồ Hồng Ánh đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.

[1.3] Tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với bà Trịnh Thị Cẩm N về trách nhiệm liên đới trả tiền vay, việc rút yêu cầu là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của JUPITER đối với bà Trịnh Thị Cẩm N về trách nhiệm liên đới trả tiền vay.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về việc giao kết, thực hiện hợp đồng tín dụng: Vào ngày 21/3/2022, V2 – chi nhánh C1 và ông Huỳnh Quốc V có ký hợp đồng tín dụng số LN2202285275841, số tiền vay 460.000.000 đồng, thời hạn 96 tháng, lãi suất 9 %/năm, mục đích vay mua xe ôtô. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông V đã vi phạm không trả vốn và lãi, chuyển nợ quá hạn vào ngày 15/02/2023. Xét thấy, hợp đồng tín dụng số LN2202285275841 được các bên xác lập và ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung, mục đích không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, thoả thuận lãi suất trong hợp đồng không trái với quy định tại Điều 357, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010nên có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng cam kết.

[2.2] Ngày 30/6/2024, V2 và GALAXY ký hợp đồng mua bán nợ số 03-30/6/2023/GLX-VPB (kèm Phụ lục ngày 01/12/2023) mua bán toàn bộ khoản nợ của ông Huỳnh Quốc V phát sinh theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm, các thoả thuận khác liên quan hợp đồng. Ngày 12/7/2024, GALAXY đã bán khoản nợ của ông Huỳnh Quốc V cho JUPITER theo hợp đồng mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER (kèm Phụ lục số 02). Khi chuyển giao quyền, nghĩa vụ thì GALAXY có thông báo số 469/24/TB-GLXJPT ngày 24/7/2024 cho ông V biết. Việc mua bán nợ được thực hiện theo quy định về chủ thể tại Điều 13 của Thông tư số 09/2015/TT-NHNN17/7/2015 của Thống đốc Ngân hàng N1 quy định về hoạt động mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài, khoản 9 Điều 1 của Thông tư số 18/2022/TT-NHNN ngày 26/12/2022 và khoản 2 Điều 365, Điều 368 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên JUPITER có quyền khởi kiện yêu cầu ông Huỳnh Quốc V thực hiện nghĩa vụ trả nợ, yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng tín dụng số LN2202285275841 ngày 21/3/2022.

Bị đơn ông Huỳnh Quốc V không có ý kiến về việc mua bán nợ, đồng ý trả nợ cho JUPITER nhưng không thống nhất số tiền vốn gốc còn nợ 412.070.476 đồng. Qua thu thập chứng cứ trong vụ án ly hôn thụ lý số 260/2023/TLST-HNGĐ ngày 04/7/2023, tại biên bản hoà giải ngày 23/8/2023 của Toà án huyện P, ông V trình bày có nợ V2 số tiền 441.823.599 đồng và cung cấp kèm theo thông báo khởi kiện số 1694/2023/SE-TB-VPB ngày 09/8/2023 của V2. Nay, ông V cho rằng chỉ còn nợ vốn gốc khoảng 350.000.000 đồng và các lần trả nợ đều thanh toán thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản của V2 nhưng không cung cấp được sao kê tài khoản của cá nhân ông để chứng minh số tiền đã trả nên không có căn cứ xem xét. Do đó, ông V phải trả cho JUPITER số tiền 617.775.736 đồng gồm vốn gốc 412.070.476 đồng và tiền lãi 205.685.260 đồng tính đến ngày 16/4/2025, tiếp tục tính tiền lãi phát sinh trên nợ gốc đến khi thanh toán đủ tiền gốc theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

[2.3] Ông V khai tài sản thế chấp đã đem cầm cố cho dịch vụ cầm đồ Hồng Ánh nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện đã cầm cố và hiện nay không biết tài sản đang ở đâu. Toà án đã thông báo cho dịch vụ cầm đồ Hồng Ánh tham gia tố tụng nhưng vắng mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến, nếu có tranh chấp với ông V thì sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Xét thấy, hợp đồng thế chấp số LN2202285275841 ngày 21/3/2022 được đăng ký giao địch đảm bảo theo quy định tại Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 49 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và tài sản thế chấp là xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát: 67A-197.75, thuộc quyền sỡ hữu của ông V theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 67008757 do Công an tỉnh A cấp ngày 23/3/2022 nên có hiệu lực pháp luật. Bà Trịnh Thị Cẩm N xác định đây là tài sản riêng của ông V, không tranh chấp đối với tài sản này, nếu ông V không trả nợ thì JUPITER có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nói trên để đảm bảo việc thi hành án.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông V phải chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền phải trả là 28.711.000 đồng theo Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228, Điều 147, Điều 271, khoản 2 Điều 244; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 323, Điều 357, khoản 1, 2 Điều 365, Điều 368, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91, 94, 95, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 cuả Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M đối với bà Trịnh Thị Cẩm N về trách nhiệm liên đới trả tiền vay.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần M đối với ông Huỳnh Quốc V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

    Buộc ông Huỳnh Quốc V phải trả cho Công ty cổ phần M số tiền 617.775.736 đồng (Bằng chữ: Sáu trăm mười bảy triệu bảy trăm bảy mươi lăm ngàn bảy trăm ba mươi sáu đồng) gồm tiền vốn gốc 412.070.476 đồng và tiền lãi 205.685.260 đồng tính đến ngày 16/4/2025.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Huỳnh Quốc V phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng hợp đồng tín dụng số LN2202285275841 ngày 21/3/2022.

  3. Trường hợp ông Huỳnh Quốc V không trả nợ thì Công ty cổ phần M có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp số LN2202285275841 ngày 21/3/2022 đối với xe ô tô xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI, biển kiểm soát số: 67A-197.75, số khung MHYANC22SMJ915971, số máy K15BT1321663, màu sơn cam, theo giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số 67008757 do Công an tỉnh A cấp ngày 23/3/2022 đứng tên Huỳnh Quốc V để thu hồi nợ.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Công ty cổ phần M không phải chịu án phí và được hoàn lại 12.700.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0011674 ngày 09/12/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

    Ông Huỳnh Quốc V phải chịu án phí dân sự 28.711.000 đồng (Hai mươi tám triệu bảy trăm mười một ngàn).

  5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/DS-ST ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 89/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cổ phần MBN M đối với ông Huỳnh Quốc V về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger