TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2025/DS-ST. Ngày: 10/3/2025. V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Nhanh.
- Ông Nguyễn Đình Cương.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 và ngày 10 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 463/2023/TLST-DS ngày 18/10/2023 về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 750/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1958; vắng mặt.
- Bà Lê Thị N, sinh năm: 1964; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: A B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm: 1983;
Địa chỉ: 3 B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số công chứng 001522 ký tại Văn phòng C ngày 08/3/2022 (có mặt).
*Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1970;
Địa chỉ: 3 (số M) B, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (bà H2 có mặt).
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân Quận H5, Thành phố Hồ Chí Minh;
Trụ sở: 04 đường D, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh T; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quận H5.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Thái Thành T1; chức vụ: Phó trưởng Phòng T4; theo văn bản ủy quyền số: 3093/UBND-TNMT ngày 28/11/2023. Ông Thái Thành T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại nội dung đơn khởi kiện, các bản tự khai kèm theo hồ sơ, bà Nguyễn Thị Ngọc H1 là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N trình bày:
Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị N là chủ sở hữu nhà đất số A B, Phường E, Quận H, cụ thể: Tổng diện tích sử dụng nhà ở là 86,6 m², kết cấu nhà vách gạch, mái tôn, số tầng 1 và Đất ở thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 72, phường E, quận H, diện tích 140 m², hình thức sử dụng riêng theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, hồ sơ gốc số 03848/2004 do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp ngày 26/3/2004 cho ông H, bà N, cập nhật biến động còn 123,15 m² ngày 13/6/2018.
Hiện nay, ông H, bà N có nhu cầu xin phép xây dựng nhà thì phát hiện diện tích đất ghi trên giấy chứng nhận nêu trên ít hơn diện tích đất thực tế gia đình ông H, bà N đang sử dụng.
Sau khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh và Trung tâm Đo đạc bản đồ của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H đo lại diện tích thực tế sử dụng giữa nhà ông H, bà N là nhà đất số A B và nhà đất của bà Nguyễn Thị H2 là nhà đất số C (nay là số A) Bông Sao theo Bản vẽ sơ đồ nhà đất ngày 10/12/2020 (đã được kiểm tra nội nghiệp) thì phát hiện ranh giới đất cấp quyền sử dụng đất cho nhà bà H2 chồng lên ranh đất của nhà ông H, bà N với diện tích 10,5 m². Nhà đất số A B của bà H2 đã được Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp Giấy chứng nhận số 1791/2007/GCN ngày 05/11/2007.
Bức tường riêng của nhà đất số A B bên cạnh nhà đất số A B của bà H2 là do ông H xây từ năm 1990, kéo dài từ đầu nhà đến cuối nhà. Phần diện tích đất 10,5 m² hiện do ông H, bà N đang sử dụng từ trước khi H5 cấp cho bà H2 tuy nhiên lại được cấp chồng lên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H2. Ông H, bà N xác định không tranh chấp về ranh diện tích sử dụng mà chỉ tranh chấp về diện tích thực tế 10,5 m² ông H, bà N đang sử dụng được cấp chồng lấn vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H2. Các bên đã hòa giải tại Ủy ban nhân dân Phường E, Quận H theo biên bản hòa giải ngày 11/01/2023 nhưng không thành.
Nay nguyên đơn yêu cầu khởi kiện:
- - Công nhận quyền sử dụng đất cho ông H, bà N đối với phần diện tích 10,5 m², thuộc một phần thửa số 91 (91-1 và 91-2) tại Giấy chứng nhận số 1791/2007/GCN do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp ngày 05/11/2007 cho bà Nguyễn Thị H2.
- - Hủy Giấy chứng nhận số 1791/2007/GCN do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp ngày 05/11/2007 cho bà Nguyễn Thị H2.
Đối với yêu cầu phản tố của bà H2 thì nguyên đơn không đồng ý do nhà đất này do nguyên đơn đã mua từ năm 1987, xây dựng và sử dụng ổn định từ năm 1990, có đăng ký kê khai năm 1999 và hai bên cũng đã xây tường riêng để ngăn cách hai căn nhà. Đồng thời, tại tờ trường trình nguồn gốc nhà đất ngày 19/02/2021 thì Ủy ban nhân dân Phường E, Quận H cũng đã xác nhận tường trình về diện tích đất sử dụng và xây dựng nhà đất của ông H là đúng nên việc bà H2 yêu cầu trả lại phần diện tích đất là 4,8 m² mà nguyên đơn đang quản lý sử dụng thì nguyên đơn không đồng ý.
Nguyên đơn không có ý kiến đối với Chứng thư thẩm định giá số 012/2024/A.281 ngày 30/12/2024 của Công ty T5.
Đối với ý kiến của bị đơn là: “Nguyên đơn đồng ý bồi thường phần diện tích đất 10,5 m² và công trình trên đất theo giá trị tại Chứng thư thẩm định giá số 012/2024/A.281 ngày 30/12/2024 của Công ty T5 là 845.170.000 đồng thì bị đơn đồng ý để nguyên đơn sở hữu đối với phần đất nêu trên và bị đơn sẽ thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên” thì nguyên đơn không đồng ý.
Tại các bản tự khai và biên bản hòa giải, bị đơn bà Nguyễn Thị H2 trình bày:
Nhà đất số C B (nay là nhà Đ B), Phường E, Quận H được nhà nước công nhận cho bà H2 vào năm 2007 theo Giấy chứng nhận số 1791/2007/GCN do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp ngày 05/11/2007 cho bà Nguyễn Thị H2, cụ thể: Đất ở thuộc thửa đất số 91, tờ bản đồ số 72BĐĐC, diện tích 105,3 m²; nhà ở: Diện tích sàn 103,5 m², kết cấu nhà tường gạch, mái tôn; cấp nhà ở số D, số tầng 1, năm xây dựng 1994.
Nhà đất số A B cũng đã được xây tường riêng. Bị đơn không nhớ thời gian xây dựng căn nhà do nhà đất này do bố mẹ của bị đơn để lại cho bị đơn và bị đơn được cấp giấy chứng nhận vào năm 2007. Bức tường sau nhà có chiều dài 4,95m là do bị đơn khi sửa nhà thì có lùi vào và ông H đã xây dựng bức tường lấn phần đất này có diện tích là 4,8 m². Nhà nước đã cấp giấy chứng nhận cho bị đơn có nghĩa là bị đơn đã được nhà nước công nhận phần diện tích đất đó nên bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị ông H trả lại phần diện tích 4,8 m² đất nêu trên cho bị đơn. Phần còn lại là 5,7 m² bị đơn không đồng ý làm lại sổ nếu ông H không bồi thường cho bị đơn theo giá thị trường.
Bị đơn đồng ý đối với Chứng thư thẩm định giá số 012/2024/A.281 ngày 30/12/2024 của Công ty T5.
Trường hợp nguyên đơn đồng ý bồi thường phần diện tích đất 10,5 m² và công trình trên đất theo giá trị tại Chứng thư thẩm định giá số 012/2024/A.281 ngày 30/12/2024 của Công ty T5 là 845.170.000 đồng thì bị đơn đồng ý để nguyên đơn sở hữu đối với phần đất nêu trên và bị đơn sẽ thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân Quận H5 có ông Thái Thành T1 là đại diện theo ủy quyền trình bày tại Bản ý kiến ngày
13/12/2023:
Nhà đất số C B, Phường E, Quận H (thửa 91, tờ bản đồ 72) có nguồn gốc: Nhà đất do cha mẹ của bà Nguyễn Thị H2 là ông Nguyễn Văn G (chết năm 1997) và bà Nguyễn Thị N1 mua lại của ông Nguyễn Văn T2 theo Giấy phép công nhận quyền sở hữu nhà số 520/GP-CS ngày 06/5/1993 do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp.
Năm 1999, bà N1 có đăng ký kê khai nhà đất. Năm 2001, bà N1 tặng cho bà Nguyễn Thị H2 theo Hợp đồng tặng cho số công chứng 044879 ngày 19/12/2001.
Năm 2007, bà Nguyễn Thị H2 được Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1791/2007/GCN ngày 05/11/2007.
Cơ sở pháp lý cấp giấy chứng nhận: khoản 1 Điều 13 Quyết định số 54/2007/QĐ-UBND ngày 30/3/3007 của Ủy ban nhân dân thành phố.
Đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật để xét xử vụ vụ. Ủy ban nhân dân Quận H5 có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc và xét xử của Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị H2 với diện tích 10,5m² do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1791/2007/GCN ngày 05/11/2007.
Bị đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố là đề nghị ông H trả lại phần diện tích 4,8 m² đất nêu trên cho bị đơn. Phần còn lại là 5,7 m² bị đơn không đồng ý làm lại sổ nếu ông H không bồi thường cho bị đơn theo giá thị trường.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Về nội dung vụ án: Đề nghị công nhận diện tích đất tranh chấp 10,5m² thuộc quyền sử dụng của bị đơn và buộc nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn giá trị tính theo giá thị trường của diện tích đất 10,5m² thành tiền là 845.170.099 đồng theo chứng thư thẩm định giá và quy định cho nguyên đơn được quyền kê khai đăng ký để cấp quyền sử dụng đất diện tích đất 10,5m² theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ trong vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về pháp luật tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn có yêu cầu hủy quyết định cá biệt là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1791/2007/GCN ngày 05/11/2007 được Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp cho bà Nguyễn Thị H2 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thủ tục tố tụng: Ủy ban nhân dân Quận H5 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định.
- Về nội dung: Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị N:
- Về nguồn gốc của nhà đất số A B, Phường E, Quận H (sau đây gọi bà nhà số A B):
Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N mua nhà đất của bà Kiều Thị H3 và có lập Bản thỏa thuận ngày 26/3/1987. Sau khi mua căn nhà trên thì năm 1990, ông H và bà N xây dựng nhà ở với cấu trúc tường xi măng, cột đúc, đà kiềng, gạch ốp lát, mái tole. Ông H, bà N đã xây bức tường nhà dài từ phía trước nhà đến cuối nhà. Đến năm 1999, ông H, bà N có đăng ký kê khai nhà đất theo quy định đối với phần đất trên diện tích 163 m², thuộc thửa đất số 135-56 và tài sản trên đất là nhà phố, diện tích xây dựng 90 m², kết cấu: Tường xi măng, cột đúc, đà kiềng, gạch ốp lát.
Sau đó, ông H, bà N được Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 03848/2004 ngày 26/3/2004 đối với phần diện tích 140 m² đất trên đó có nhà ở diện tích 86,6 m², kết cấu vách gạch, mái tôn, thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 72 Phường E, Quận H.
- Về nguồn gốc của nhà đất số A B, Phường E, Quận H (sau đây gọi là nhà số A B):
Theo văn bản ý kiến ngày 13/12/2023 của ông Nguyễn Thành T3 là đại diện theo ủy quyền của H5 thì nhà, đất 3 B, Phường E, Quận H (Thửa 91, tờ bản đồ số 72) có nguồn gốc như sau: Nhà đất do cha mẹ của bà Nguyễn Thị H2 là ông Nguyễn Văn G (chết năm 1997) và bà Nguyễn Thị N1 mua lại của ông Nguyễn Văn T2 theo Giấy phép công nhận quyền sở hữu nhà ở số 520/GP-CS ngày 06/5/1993 do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp. Năm 1999, bà N1 có đăng ký kêt khai nhà đất; đến năm 2001, bà N1 tặng cho cho bà Nguyễn Thị H2 theo Hợp đồng tặng cho số công chứng 0044879 ngày 19/12/2001. Đến năm 2007, bà Nguyễn Thị H2 được Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1791/2007/GCN ngày 05/11/2007.
Qua xem xét thẩm định tại chỗ thì Tòa án nhận thấy phần tiếp giáp giữa căn nhà số A B và căn nhà số A B đều có tường riêng. Ngoài ra, theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở T lập ngày 31/01/2024 thể hiện ranh giới đất giữa hai căn nhà nêu trên chồng lấn nhau khoảng 10,5 m²; phần diện tích chồng lấn này hiện do nguyên đơn ông H và bà N đang quản lý, sử dụng nhưng được cấp trong giấy chứng nhận của bà Nguyễn Thị H2.
- Về nguồn gốc của nhà đất số A B, Phường E, Quận H (sau đây gọi bà nhà số A B):
- Nhận thấy, phần nhà đất số A B được ông H, bà N quản lý, sử dụng từ năm 1987 là trước thời điểm bà Nguyễn Thị N1 là mẹ của bà H2 quản lý sử dụng theo giấy phép năm 1993. Năm 1990, ông H, bà N xây bức tường kéo dài từ đầu nhà đến cuối nhà tuy nhiên cũng không có tranh chấp về việc xây bức tường này.
Tại Đơn tường trình về nguồn gốc nhà đất ngày 19/2/2021 của ông Nguyễn Văn H cũng được Ủy ban nhân dân Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận nội dung tường trình về nguồn gốc của ông H đối với nhà đất 171 Bông Sao nêu trên là đúng.
Tại Công văn số 954/UBND-TNMT ngày 04/4/2019 của Ủy ban nhân dân Quận H5 cũng có ý kiến về việc các thửa đất trong đó có các thửa thuộc nhà đất số 169 và 171 có ranh sử dụng đất không đúng so với hiện trạng thực tế.
- Từ các nhận định nêu trên, có thể thấy được, toàn bộ phần diện tích đất thuộc nhà 169 Bông Sao và 171 Bông Sao đều được các cá nhân là bà Nguyễn Thị H2 và ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N quản lý, sử dụng ổn định từ trước đến nay. Phần diện tích đất hiện đang tranh chấp 10,5 m² cũng do ông H, bà N quản lý sử dụng ổn định từ năm 1987 đến nay. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H2 được cấp chồng lấn lên phần diện tích 10,5 m² mà ông H, bà N đang quản lý, sử dụng là do việc ranh giới sử dụng đất không đúng so với hiện trạng thực tế sử dụng theo như ý kiến của Ủy ban nhân dân Quận H5, cụ thể là bị ranh tịnh tiến.
Theo bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm bản đồ Sở T thiết lập ngày 31/01/2024 thể hiện ranh giới giữa nhà ông H, bà N và nhà bà H2 là bức tường riêng được xây dựng sát nhau. Tại phiên tòa, bà H2 xác nhận khi bà về ở nhà từ năm 1992 thì nhà đất của vợ chồng ông H và nhà của bà đã được xây dựng từ trước và ranh giới hai nhà đã được phân định bằng bức tường riêng. Do đó, có căn cứ xác định vợ chồng ông H đã quản lý, sử dụng diện tích đất 10,5m² tranh chấp ổn định nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H2 với diện tích đất 10,5m² vào năm 2007 là không đúng đối tượng sử dụng đất vì bà H2 không trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp. Theo quy định tại Điều 49 Luật đất đai năm 2003 thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải cấp trực tiếp cho người đang sử dụng đất theo quy định Điều 50,51 Luật Đất đai 2003.
- Theo quy định tại Điều 48 Nghị định số: 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính quy định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được thực hiện như sau:
Việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được thực hiện theo quy định sau:
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà không có tranh chấp thì diện tích đất có giấy tờ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp
- Nhận thấy, phần nhà đất số A B được ông H, bà N quản lý, sử dụng từ năm 1987 là trước thời điểm bà Nguyễn Thị N1 là mẹ của bà H2 quản lý sử dụng theo giấy phép năm 1993. Năm 1990, ông H, bà N xây bức tường kéo dài từ đầu nhà đến cuối nhà tuy nhiên cũng không có tranh chấp về việc xây bức tường này.
đất thuộc khu vực phải thu hồi theo quy hoạch mà đã có quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà toàn bộ thửa đất hoặc một phần thửa đất không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất không có giấy tờ khi có đủ các điều kiện sau:
- Đất không có tranh chấp;
- Như vậy, để đảm bảo quyền lợi thực tế các bên hiện đang quản lý, sử dụng phần đất của minh, xét thấy cần phải công nhận phần diện tích 10,5 m² đất đang tranh chấp cho người thực tế quản lý, sử dụng là ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N và hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1791/2007/GCN ngày 05/11/2007 đối với phần diện tích 10,5 m² mà bà H2 đã được Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp để ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N và bà Nguyễn Thị H2 thực hiện thủ tục cấp lại giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất và tài sản trên đất đang thực tế quản lý, sử dụng là có căn cứ. Do đó, có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị H2:
Thời điểm ông H, bà N xây dựng bức tường nhà giáp ranh giữa 02 căn nhà 169 B và 171 Bông Sao từ năm 1990 thì ông Nguyễn Văn T2 là người đang quản, lý sử dụng căn nhà 169 Bông Sao không có ý kiến và tranh chấp gì. Đến năm 1993, bà Nguyễn Thị N1 mua lại của ông T2 thì bà N1 cũng không có ý kiến hay tranh chấp đối với bức tường nêu trên. Do đó nhận định tại mục [2] là có cơ sở nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị H2.
- Do đó, Viện kiểm sát đề nghị công nhận diện tích đất tranh chấp 10,5m2 thuộc quyền sử dụng của bị đơn và buộc nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn giá trị tính theo giá thị trường của diện tích đất 10,5m² thành tiền là 845.170.099 đồng theo chứng thư thẩm định giá là không có căn cứ nên không chấp nhận.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn được chấp nhận và yêu cầu phản tố bị đơn không được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 49, 50 Luật đất đai 2003;
- - Áp dụng nghị định số: 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành luật đất đai ngày 26/11/2003.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N:
- - Hủy một phần Giấy chứng nhận số 1791/2007/GCN do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp ngày 05/11/2007 cho bà Nguyễn Thị H2 đối với phần diện tích 10,5 m².
- - Công nhận quyền sử dụng đất cho Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N đối với phần diện tích 10,5 m², thuộc một phần thửa số 91 (91-1 và 91-2) tại Giấy chứng nhận số 1791/2007/GCN do Ủy ban nhân dân Quận H5 cấp ngày 05/11/2007 cho bà Nguyễn Thị H2. Ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xin cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị H2 về việc:
- - Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N trả lại phần diện tích 4,8 m² đất thuộc phần diện tích 10,5 m² hiện đang tranh chấp cho bị đơn bà Nguyễn Thị H2. Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N phải thanh toán trị giá diện tích còn lại là 5,7 m² cho bị đơn theo giá thị trường.
- Về chi phí tố tụng:
Bà Nguyễn Thị H2 phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc tài sản theo Hợp đồng số 16016/TBĐĐBĐ-VPĐD ngày 29-11-2023 và Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 27/02/2024 là 11.050.338 đồng (mười một triệu không trăm năm mươi nghìn ba trăm ba mươi tám đồng). Buộc bà H2 phải thanh toán lại cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N số tiền nêu trên.
Bà Nguyễn Thị H2 phải chịu toàn bộ chi phí thẩm định giá theo Hợp đồng thẩm định giá số A.272/24/Saigon PA/HĐ ngày 24/12/2024 của Công ty T5 là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng). Buộc bà H2 phải thanh toán lại cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N số tiền là 9.500.000 đồng (chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Nguyễn Thị H2 chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì còn phải trả thêm cho ông H, bà N tiền lãi tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Bà H2 đã đóng số tiền tạm ứng án phí theo theo biên lai thu tạm ứng số 0005435 ngày 04/7/2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
H4 lại cho ông Nguyễn Văn H, bà Lê Thị N số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng số 0002462 ngày 12/10/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Hữu Nhân |
Bản án số 89/2025/DS-ST ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt
- Số bản án: 89/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
