Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 89/2025/DS-ST.

Ngày: 04 - 4 - 2025.

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Huỳnh Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Minh Lý
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Cao Viết Xuân Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên

Vào ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 935/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXX- ST ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1).

    Trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên hệ: Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B - PGD L, số A N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1995; thường trú tại: thôn B, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi, nơi làm việc: Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B, số A N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 23/7/2024), có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Ông Bùi Ngọc N, sinh năm 1976; thường trú tại: Số A, đường D, Khu T, tổ C, khu E, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Đơn khởi kiện ngày 23/7/2024, nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) trình bày:

Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/07/2013 được ký giữa Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh B - B và ông Bùi Ngọc N, theo đó, ngày 18/07/2013 ông Bùi Ngọc N được Ngân hàng cấp hạn mức thẻ tín dụng với số tiền là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng. Khoản vay không có tài sản đảm bảo.

Từ ngày 22/6/2019, ông N tiến hành giao dịch bằng thẻ đến 22/6/2020 thì ngưng giao dịch. Quá trình vay ông N có trả nợ một phần nhưng đến ngày 22/3/2024 thì ngưng. Toàn bộ khoản vay đều đã chuyển nợ quá hạn.

Ngân Hàng TMCP S đã nhiều lần trao đổi, làm việc và tạo mọi điều kiện để ông Bùi Ngọc N tìm nguồn tiền để trả vốn vay và khoản lãi nhưng đến thời điểm hiện nay ông N vẫn không thực hiện thanh toán theo đúng các cam kết với Ngân hàng.

Tạm tỉnh đến thời điểm ngày 09/7/2024 ông Bùi Ngọc N còn nợ Ngân hàng TMCP S số vốn gốc, lãi quá hạn cụ thể như sau:

  • Nợ gốc: 50.000.000 đồng
  • Tổng tiền lãi: 23.609.489 đồng
  • Tổng cộng: 73.609.489 đồng

Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Bùi Ngọc N phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng toàn bộ số nợ tạm tính đến ngày ngày 09/7/2024 là 73.609.489 đồng (nợ gốc: 50.000.000 đồng; nợ lãi: 23.609.489 đồng). Ngoài ra, ông Bùi Ngọc N còn phải trả cho Ngân hàng tiền lãi quá hạn, lãi phạt được tính theo Hợp đồng tín dụng (đã nêu) từ ngày 10/7/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Ông Bùi Ngọc N phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí phát sinh có liên quan.

Quá trình tố tụng, bị đơn đã nhận thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến trình bày và vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên Tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần 2 đối với việc xét xử.

*Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Riêng đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được xem như bị đơn tự tước đi quyền trình bày, đưa ra chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

2

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S đối với bị đơn ông Bùi Ngọc N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu bị đơn trả nợ vay tín dụng nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T nên quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án thành phố T là Tòa án có thẩm quyền giải quyết.

Về việc xét xử vắng mặt: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần 2 đối với việc xét xử nhưng vắng mặt nên theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Bùi Ngọc N yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết các vấn đề sau:

  1. Buộc ông Bùi Ngọc N trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm tính đến hết ngày 09/7/2024 với Nợ gốc: 50.000.000 đồng; Nợ lãi: 23.609.489 đồng.
  2. Kể từ ngày 10/7/2024, ông N phải tiếp tục trả phần nợ lãi quá hạn, lãi phạt được tính theo Hợp đồng tín dụng (đã nêu) từ ngày 10/7/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Chứng cứ chứng minh: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/7/2013;

Quá trình tố tụng, bị đơn không tham gia tố tụng.

Xét thấy, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/7/2013, bị đơn ký kết trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia trong giao dịch có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết.

Nguyên đơn phát hành thẻ cho bị đơn với hạn mức 200.000.000 đồng. Sau khi được phát hành thẻ bị đơn đã sử dụng thẻ ghi nợ với số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền này bị đơn sử dụng vào mục đích tiêu dùng cá nhân. Từ ngày 22/3/2024, bị đơn không trả được nợ nên bị xếp vào nhóm 5 nợ xấu là vi phạm nghĩa vụ của người vay. Do vậy nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả gốc 50.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

3

Về yêu cầu trả lãi của nguyên đơn, xét thấy: Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng tại Điều 13 về lãi suất cho vay như sau: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N1 có quy định về lãi suất cho vay tối đa”.

Hiện nay Ngân hàng N1 không quy định về mức lãi suất tối đa và khi ký kết hợp đồng các bên đã thỏa thuận lãi suất nên phải có nghĩa vụ thực hiện sự thỏa thuận. Quá trình thực hiện hợp đồng vay ông N chưa trả nợ lãi nên khoản nợ bị quá hạn do vậy nguyên đơn yêu cầu trả lãi quá hạn số tiền 23.609.489 đồng là có căn cứ chấp nhận.

Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 299, 303, 317, 318, 319, 320, 463, 466, 468 và 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 94, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;

Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

4

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) đối với bị đơn – ông Bùi Ngọc N về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

    Về số tiền nợ: Ông Bùi Ngọc N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền: 73.609.489 đồng (bảy mươi ba triệu sáu trăm lẻ chín nghìn bốn trăm tám mươi chín đồng), trong đó:

    • + Nợ gốc: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
    • + Nợ lãi: 23.609.489 đồng (hai mươi ba triệu sáu trăm lẻ chín nghìn bốn trăm tám mươi chín đồng)

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn – ông Bùi Ngọc N phải chịu số tiền 3.680.474 đồng (ba triệu sáu trăm tám mươi nghìn bốn trăm bảy mươi bốn đồng).

    Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một hoàn trả cho nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1) số tiền 1.840.000 đồng (một triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 003361 ngày 30/10/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

  3. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
  4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Tp. Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS Tp.Thủ Dầu Một;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Huỳnh Minh Trí

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 89/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger