Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 89/2025/DS-PT

Ngày 23 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
  • Các Thẩm phán: bà Phạm Thị Chuyền và ông Phạm Văn Tú;
  • Thư ký phiên toà: bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: ông Lương Thất T - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 23/6/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 56/2025/TLPT-DS ngày 09/5/2025, về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 17/03/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 72/2025/QĐ-PT ngày 30/5/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2025/QĐ-PT ngày 12/6/2025 giữa:

Đồng nguyên đơn:

  • + Ông Lương Đức V, sinh năm 1962 (vắng mặt);
  • + Bà Hoàng Thị Bích B, sinh năm 1963 (vắng mặt) uỷ quyền cho ông Lương Đức V, sinh năm 1962 đại diện (vắng mặt);
  • + Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1957 (vắng mặt) uỷ quyền cho bà Vũ Thị L, sinh năm 1961 đại diện (vắng mặt);
  • + Bà Vũ Thị L, sinh năm 1961 (vắng mặt);
  • + Ông Vũ Chí L1, sinh năm 1947 (vắng mặt) uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957 đại diện (vắng mặt);
  • + Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1957 (vắng mặt);
  • Đều cư trú: thôn H, xã L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • + Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970 (vắng mặt) uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1970 đại diện (vắng mặt);
  • + Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1975 (vắng mặt);
  • Đều cư trú: thôn N, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  • + Ông Tạ Văn Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt) uỷ quyền cho ông Vũ Thị H1, sinh năm 1973 đại diện (vắng mặt);
  • + Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1973 (vắng mặt);
  • + Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956 (vắng mặt) uỷ quyền cho ông Nguyễn Thị D, sinh năm 1957 đại diện (vắng mặt);
  • + Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957 (vắng mặt);
  • Đều cư trú: thôn Đ, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

- Đồng bị đơn:

  • + Bà Bùi Thị T3, sinh năm: 1977 (có mặt);
  • + Ông Vũ Trí H2, sinh năm: 1974 (có mặt);
  • Đều cư trú: thôn H, xã L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.

Người kháng cáo: ông Vũ Trí H2 là bị đơn;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 17/03/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, nội dung vụ án như sau:

Đồng nguyên đơn - ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị Bích B, ông Nguyễn Văn T1, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí L1, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị L2, ông Tạ Văn Đ, bà Vũ Thị H1, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị D trình bày:

  • - Bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 nợ vợ chồng ông Lương Đức V và bà Hoàng Thị Bích B số tiền gốc là 100.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 10/10/2022 âm lịch (tức ngày 03/11/2022 dương lịch). Ông V, bà B yêu cầu bà T3, ông H2 trả tiền gốc 100.000.000 đồng và trả lãi kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm tính tròn thời gian là 02 năm 3 tháng trên nợ gốc trong hạn và lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả với lãi suất 0,83%/tháng. Bà T3 nói vay tiền về trả nợ tiền làm quán đang bán hàng, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt ông V giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 nợ vợ chồng ông Nguyễn Văn T1, bà Vũ Thị L số tiền gốc là 100.000.000 đồng theo giấy Biên nhận vay tiền mặt ngày 12/05/2023 âm lịch (tức ngày 29/06/2023 dương lịch). Ông T1, bà L yêu cầu bà T3, ông H2 trả tiền gốc 100.000.000 đồng và trả lãi kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm tính tròn là 01 năm 8 tháng trên nợ gốc trong hạn và lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả với lãi suất 0,83%/tháng. Bà T3 nói vay tiền về trả nợ tiền làm quán đang bán hàng, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà L giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 nợ vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Vũ Chí L1 số tiền là 137.000.000 đồng theo Giấy xác nhận vay tiền ngày 08/11/2023 âm lịch (tức ngày 20/12/2023 dương lịch). Bà H, ông L1 yêu cầu bà T3, ông H2 trả tiền vay gốc 137.000.000 đồng. Bà T3 nói vay tiền về trả nợ tiền làm nhà và làm quán đang bán hàng, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà H giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 nợ vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị L2 số tiền là tiền 200.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay ngày 29/06/2023. Ông T2, bà L2 yêu cầu bà T3, ông H2 trả tiền vay gốc 200.000.000 đồng. Bà T3 nói vay tiền về trả nợ tiền làm nhà và trả tiền vay ngân hàng làm nhà, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt ông T2 giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 nợ vợ chồng bà Vũ Thị H1, ông Tạ Văn Đ số tiền gốc là 50.000.000 đồng theo giấy ghi nợ viết tay ngày 21/12/2021. Bà H1, ông Đ yêu cầu bà T3, ông H2 trả tiền gốc 50.000.000 đồng và tính tròn thời gian trả lãi kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm tính tròn thời gian là 03 năm 02 tháng, với lãi suất 0,83%/tháng. Bà T3 nói vay tiền về trả nợ tiền vật liệu điện nước của nhà bên trong, sau quán bán hàng hiện nay, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà H1 giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 nợ vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị D số tiền gốc là 130.000.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 05/08/2021 âm lịch (tức ngày 11/09/2021 dương lịch). Ông N, bà D yêu cầu bà T3, ông H2 trả tiền gốc 130.000.000 đồng và trả lãi kể từ ngày vay đến ngày xét xử sơ thẩm tính tròn là 03 năm 05 tháng, với lãi suất 0,83%/tháng. Ông H2, bà T3 đặt vấn đề vay tiền, nói vay tiền về để trả nợ cũ ngân hàng và vay tiền lại ngân hàng để làm nhà, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà D giao trực tiếp cho bà T3.

Việc vay mượn tiền trên không liên quan đến ai khác nên các nguyên đơn yêu cầu không đưa ai khác tham gia tố tụng. Ngoài ra các nguyên đơn không có tranh chấp, không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.

Bị đơn là bà Bùi Thị T3 trình bày: trong thời gian còn là vợ chồng thì ông Vũ Trí H2 có bàn bạc bảo bà vay tiền những người dưới đây để hoàn thiện quán bán hàng và nhà 159,2m² nằm trên diện tích 530,8m² đất thuộc thửa 349, địa chỉ thửa đất: thôn H, xã L, bao gồm:

  • - Bà T3, ông H2 nợ vợ chồng ông V và bà B số tiền gốc là 100.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 10/10/2022 âm lịch (tức ngày 03/11/2022 dương lịch). Lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng. Tiền lãi tạm tính từ ngày 03/11/2022 – ngày 07/10/2024 (01 năm 11 tháng 04 ngày) là: 23.133.333 đồng. Tổng số tiền ông H2 và bà T3 phải trả cho vợ chồng ông V, bà B cả gốc và lãi là: 123.133.333 đồng. Ông H2 không đặt vấn đề vay tiền, bà T3 vay tiền về trả nợ tiền làm quán đang bán hàng, ông H2 không ký kết vay tiền. Bà nhận tiền mặt từ ông V giao trực tiếp.
  • - Bà T3, ông H2 nợ vợ chồng ông T1 và bà L số tiền gốc là 100.000.000 đồng theo giấy Biên nhận vay tiền mặt ngày 12/05/2023 âm lịch (tức ngày 29/06/2023 dương lịch). Lãi suất thỏa thuận là 1,5%/tháng. Tiền lãi tạm tính từ ngày 29/06/2023 - 07/10/2024 (01 năm 03 tháng 08 ngày) là: 22.900.000 đồng. Tổng số tiền ông H2 và bà T3 phải trả cho vợ chồng ông T1, bà L cả gốc và lãi là: 122.900.000 đồng. Ông H2 không đặt vấn đề vay tiền, bà T3 vay tiền về trả nợ tiền làm quán đang bán hàng, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà L giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà T3, ông H2 nợ vợ chồng bà H và ông L1 số tiền là 137.000.000 đồng theo Giấy xác nhận vay tiền ngày 08/11/2023 âm lịch (tức ngày 20/12/2023 dương lịch). Ông H2 không đặt vấn đề vay tiền, bà T3 vay tiền về trả nợ tiền làm nhà và làm quán đang bán hàng, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà H giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà T3, ông H2 nợ vợ chồng ông T2 và bà L2 số tiền 200.000.000 đồng theo Giấy biên nhận vay ngày 29/06/2023. Ông H2 không đặt vấn đề vay tiền, bà T3 vay tiền về trả nợ tiền làm nhà và trả tiền nợ vay lãi, gốc ngân hàng của món vay làm nhà, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt thì ông T2 giao tiền trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà T3, ông H2 nợ vợ chồng bà H1 và ông Đ số tiền gốc là 50.000.000 đồng theo giấy ghi nợ viết tay ngày 21/12/2021. Lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng. Tiền lãi tạm tính từ ngày 21/12/2021 - 07/10/2024 (02 năm 09 tháng 16 ngày) là: 16.500.000 đồng. Tổng số tiền ông H2 và bà T3 phải trả cho vợ chồng bà H1, ông Đ cả gốc và lãi là: 66.500.000 đồng. Ông H2 không đặt vấn đề vay tiền, bà T3 vay tiền về trả nợ tiền vật liệu điện nước của nhà bên trong, sau quán bán hàng hiện nay, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà H1 giao trực tiếp cho bà T3.
  • - Bà T3, ông H2 nợ vợ chồng ông N và bà D số tiền gốc là 130.000.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 05/08/2021 âm lịch (tức ngày 11/09/2021 dương lịch). Lãi suất thỏa thuận là 1%/tháng. Tiền lãi tạm tính từ ngày 11/09/2021 - 07/10/2024 (03 năm 26 ngày) là: 46.800.000 đồng. Tổng số tiền ông H2 và bà T3 phải trả cho vợ chồng ông N, bà D cả gốc và lãi là: 176.800.000 đồng. Ông H2, bà T3 đặt vấn đề vay tiền, vay tiền về để để trả nợ cũ ngân hàng và vay tiền lại ngân hàng để làm nhà, ông H2 không ký kết vay tiền. Tiền mặt bà D giao t trực tiếp cho bà T3.

Bị đơn là ông Vũ Trí H2 trình bày: các khoản nợ mà bà T3 trình bày vay trước khi ly hôn để vợ chồng ông H2, bà T3 xây nhà gồm: vay ông V, bà B 100.000.000 đồng; vay ông T1, bà L 100.000.000 đồng; vay ông L1, bà H 137.000.000 đồng; vay anh T2, chị L2 200.000.000 đồng; vay anh Đ, chị H1 50.000.000 đồng. Những khoản vay này thì ông không tham gia giao dịch, việc bà T3 vay không dùng vào mục đích làm nhà chung để ở nên ông không đồng ý trả các khoản nợ này. Ông H2 chỉ đồng ý trả khoản vay của vợ chồng ông N và bà D số tiền gốc là 130.000.000 đồng.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 17/03/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang đã căn cứ vào: Điều 194, Điều 463, Điều 466, khoản 01 Điều 469, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 27, Điều 33, Điều 35, Điều 37, Luật Hôn nhân và gia đình. Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Lương Đức V, bà Hoàng Thị Bích B, ông Nguyễn Văn T1, bà Vũ Thị L, ông Vũ Chí L1, bà Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị L2, ông Tạ Văn Đ, bà Vũ Thị H1, ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị D.
  2. Buộc bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 có nghĩa vụ trả vợ chồng ông Lương Đức V và bà Hoàng Thị Bích B tổng số tiền là: 122.410.000đồng (Trong đó: Bà T3 trả 50.000.000 đồng gốc, ông H2 trả 50.000.000 đồng tiền gốc, bà T3 trả 11.205.000 đồng tiền lãi, ông H2 trả 11.205.000 đồng tiền lãi).
    • - Buộc bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 có nghĩa vụ trả vợ chồng ông Nguyễn Văn T1 và bà Vũ Thị L tổng số tiền là: 116.600.000đồng (Trong đó: Bà T3 trả 50.000.000 đồng gốc, ông H2 trả 50.000.000 đồng tiền gốc, bà T3 trả 8.300.000 đồng tiền lãi, ông H2 trả 8.300.000 đồng tiền lãi).
    • - Buộc bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 có nghĩa vụ trả vợ chồng bà Nguyễn Thị H và ông Vũ Chí L1 tổng số tiền gốc là: 137.000.000 đồng (Trong đó: Bà T3 trả 68.500.000 đồng gốc, ông H2 trả 68.500.000 đồng tiền gốc).
    • - Buộc bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 có nghĩa vụ trả vợ chồng ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị L2 tổng số tiền gốc là: 200.000.000đồng (Trong đó: Bà T3 trả 100.000.000 đồng gốc, ông H2 trả 100.000.000 đồng tiền gốc).
    • - Buộc bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 có nghĩa vụ trả vợ chồng bà Vũ Thị H1 và ông Tạ Văn Đ tổng số tiền là: 65.770.000đồng (Trong đó: Bà T3 trả 25.000.000 đồng gốc, ông H2 trả 25.000.000 đồng tiền gốc, bà T3 trả 7.885.000 đồng tiền lãi, ông H2 trả 7.885.000 tiền lãi).
    • - Buộc bà Bùi Thị T3, ông Vũ Trí H2 có nghĩa vụ trả vợ chồng ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị D tổng số tiền là: 174.239.000 đồng (Trong đó: Bà T3 trả 65.000.000 đồng gốc, ông H2 trả 65.000.000đồng tiền gốc, bà T3 trả 22.119.500 đồng tiền lãi, ông H2 trả 22.119.500 đồng tiền lãi).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/03/2025, ông Vũ Trí H2 kháng cáo bản án, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm, buộc bà T3 phải chịu toàn bộ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ trên do ông H2 không tham gia ký các giao dịch vay tiền. Ông H2 chỉ đồng ý trả khoản nợ của ông N, bà D 130.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm các đồng nguyên đơn vắng mặt, ông Vũ Trí H2 giữ nguyên yêu kháng cáo.

Tranh luận:

Ông Vũ Trí H2 không tranh luận gì.

Bà T3 trình bày, việc vay mượn trên là để tôi trang trải công nợ làm nhà, trả gốc và lãi Ngân hàng theo phân kỳ, làm quán bán hàng để phát triển kinh tế gia đình và gửi cho con trả nợ nên là nợ chung của tôi và ông H2. Đề nghị HĐXX xem xét khách quan, đảm bảo quyền lợi của chúng tôi.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), Bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, các đồng nguyên đơn không chấp hành đúng quy định của BLTTDS do vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo ông Vũ Trí H2, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Trí H2 giữ nguyên bản án sơ thẩm, ông Vũ Trí H2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai không có lý do của các đồng nguyên đơn và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn không có kháng cáo mặc dù đã dược triệu tập hợp lệ. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
  2. [2] Xét kháng cáo của ông Vũ Trí H2, Hội đồng xét xử thấy: căn cứ vào các giấy vay tiền do nguyên đơn xuất trình, lời khai của các bên đương sự, lời khai của bà T3 và diễn biến tại phiên toà phúc thẩm, có đủ cơ sở xác định các khoản vay nêu trong vụ án được thực hiện trong thời kỳ ông Vũ Trí H2 và bà Bùi Thị T3 đang sống chung tại thôn H, xã L, huyện Y (nay là thành phố B). Các giấy vay đều thể hiện rõ mục đích sử dụng số tiền vay, bao gồm: xây dựng nhà ở, xây ki-ốt bán hàng, trả nợ ngân hàng, mua vật liệu xây dựng, thanh toán chi phí sinh hoạt thiết yếu của hộ gia đình. Đây là các nhu cầu thiết yếu phục vụ trực tiếp cho cuộc sống chung và phát triển kinh tế của gia đình ông H2 và bà T3.
  3. [3] Quá trình giải quyết vụ án, bà T3 thừa nhận đã đứng tên vay tiền từ Ngân hàng để làm nhà và vay từ các nguyên đơn với mục đích như đã nêu. Mặc dù ông H2 không ký tên vào các giấy vay, nhưng ông cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh rằng: các khoản vay nêu trên không phục vụ cho lợi ích chung của gia đình hoặc bà T3 sử dụng số tiền vay cho mục đích cá nhân. Mặt khác, ông H2 thừa nhận việc gia đình ông xây dựng nhà và quán kinh doanh trong thời gian chung sống với bà T3, thời điểm này ông không có nhà mà đi làm ăn xa, mọi việc xây dựng do bà T3 và anh trai bà T3 thực hiện. Những tài sản này đã được xác định là tài sản chung của vợ chồng theo Bản án sơ thẩm số 32/2024/HNGĐ-ST ngày 09/9/2024 của TAND huyện Yên Dũng (đã có hiệu lực pháp luật), trong đó Tòa án đã chia đôi quyền sở hữu nhà và ki-ốt cho ông H2 và bà T3.
  4. [4] Căn cứ Điều 27 và Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì: "Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình" được coi là nghĩa vụ chung và trong trường hợp vợ hoặc chồng tự mình thực hiện giao dịch mà người kia không phản đối, không chứng minh được việc giao dịch đó không phục vụ cho nhu cầu chung thì cả hai phải có nghĩa vụ liên đới thực hiện.
  5. [5] Theo khoản 1 Điều 274, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ trong trường hợp nhiều người cùng có nghĩa vụ đối với một khoản nợ, hoặc khi có căn cứ xác định bên không ký kết vẫn hưởng lợi từ khoản vay.
  6. [6] Các khoản vay mà bà T3 thực hiện đều có ghi nhận rõ trong giấy vay về mục đích, thời điểm vay tiền trùng khớp với thời gian gia đình ông H2 - bà T3 xây dựng nhà ở, ki-ốt, làm ăn kinh doanh, vay và trả tiền ngân hàng. Hầu hết các chủ nợ là họ hàng, hàng xóm hoặc người quen thân thiết với ông H2 và bà T3, đều biết rõ tình trạng hôn nhân và mục đích vay, đồng thời cho vay với niềm tin rằng khoản tiền đó phục vụ cho gia đình chung. Bản thân ông H2 trong các phiên làm việc tại cấp sơ thẩm cũng không phủ nhận hoàn toàn việc vợ chồng sử dụng tiền vay để xây dựng quán, nhà ở, mà chỉ cho rằng ông “không ký vay”.
  7. [7] Việc ông H2 không ký tên trong giấy vay không làm phát sinh căn cứ miễn trừ trách nhiệm liên đới, bởi thực tế ông được hưởng lợi từ các khoản vay khi cùng sử dụng và được chia tài sản là nhà, ki-ốt – những tài sản hình thành từ nguồn tiền vay đó. Đồng thời, trong quá trình chung sống, bà T3 là người đại diện thực hiện giao dịch vay mượn tiền để phục vụ gia đình, phù hợp thực tế sinh hoạt của gia đình ông H2, bà T3. Tại phiên tòa phúc thẩm, bản thân ông H2 thừa nhận mọi chi tiêu, sinh hoạt, lo toan cho gia đình và con cái do bà T3 thực hiện.
  8. [8] Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện chứng cứ, áp dụng đúng quy định của pháp luật để xác định đây là các khoản nợ chung và buộc ông H2 và bà T3 liên đới thanh toán, mỗi người chịu một nửa các nghĩa vụ trên là có căn cứ. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông H2, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSDN tỉnh B tại phiên toà phúc thẩm.
  9. [9] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của không được chấp nhận nên ông Vũ Trí H2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án..

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Xử: không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Trí H2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2025/DS-ST ngày 17/03/2025 của Tòa án nhân thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
  2. Về án phí: ông Vũ Trí H2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0002560 ngày 08/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
  3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, Chi cục THADS sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VPHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 89/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger