TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 89/2025/DS-PT
Ngày: 21/02/2025
V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh
Bà Trần Thị Diệp Linh
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Ông Lê Đức Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 542/2024/TLST-DS ngày 16.12.2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02A/2025/QĐPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐPT-HPTDS ngày 23 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số B - BN, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; đại diện theo pháp luật: Ông Phan Tấn D1 - Tổng giám đốc; đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh H.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hải A, sinh năm 1984; nơi cư trú: Tổ A phường T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Do có kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Tại phiên toà nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2023 và bản tự khai trong quá trình tố tụng của đại diện nguyên đơn được thể hiện như sau:
Ngày 25/10/2016, bà Nguyễn Thị Hải A có ký với Ngân hàng TMCP S (S1) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với hạn mức sử dụng là 45.000.000 đồng. Căn cứ thu nhập của bà Hải A, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 486265 - 3066 với hạn mức sử dụng là 45.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Hải A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 453.851.240 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 30/9/2017 bà Hải A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 409.215.000 đồng. Từ ngày 30/10/2017 bà Hải A đã không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo thông báo giao dịch hàng tháng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Hải A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Hải A vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 01/02/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Lãi suất quá hạn: (2.15% x 150%) = 3.225%/tháng. Tính đến ngày 27/8/2024, bà Hải A còn nợ cụ thể các khoản sau: Nợ gốc: 51.805.296 đồng; Nợ lãi quá hạn: 133.658.400 đồng; Tổng dư nợ: 185.463.696 đồng.
Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai buộc bà Nguyễn Thị Hải A: Thanh toán trả TMCP S số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2024, bà Hải A còn nợ cụ thể các khoản sau: Nợ gốc: 51.805.296 đồng; Nợ lãi quá hạn: 133.658.400 đồng; Tổng dư nợ: 185.463.696 đồng.
Bà Nguyễn Thị Hải A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng và Bản các điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của S1 phát sinh sau ngày 27/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ gốc vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội đã niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho bà Nguyễn Thị Hải A. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hải A đều vắng mặt không có lý do.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần S đối với bà Nguyễn Thị Hải A.
- Buộc bà Nguyễn Thị Hải A phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 27/8/2024 là: 170.434.330 đồng (trong đó: Nợ gốc: 44.935.240 đồng; Nợ lãi quá hạn: 118.629.034 đồng; lãi trong hạn và phí: 6.870.056 đồng).
Kể từ ngày 28/8/2024, bà Nguyễn Thị Hải A còn phải chịu lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết cho đến khi bà nguyễn Thị Hải A trả xong khoản nợ gốc.
Trường hợp bà Nguyễn Thị Hải A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng thương mại Cổ phần S thì Ngân hàng thương mại Cổ phần S có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự buộc bà Nguyễn Thị Hải A thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
- Bác yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại Cổ phần S đối với khoản tiền lãi quá hạn là 15.029.366 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 30.08.2024, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã xuất trình cho Tòa án thì không còn chứng cứ nào khác xuất trình cho Tòa án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 2 không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự trong vụ án chấp hành quyền, nghĩa vụ theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của đương sự tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng thương mại cổ phần S; Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 47/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đảm bảo về chủ thể, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 271, 272 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa; Bị đơn bà Nguyễn Thị Hải A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà nhưng bà Nguyễn Thị Hải A vắng mặt không có lý do nên xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị Hải A theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về số tiền nợ gốc: Ngày 25/10/2016, bà Nguyễn Thị Hải A có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với Ngân hàng TMCP S với hạn mức sử dụng là 45.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Xem xét hợp đồng thẻ tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và bà Nguyễn Thị Hải A, Hội đồng xét xử nhận thấy hợp đồng được ký kết phù hợp với các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật các tổ chức tín dụng về nội dung và hình thức của hợp đồng. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp và có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng ngày 25/10/2016 đính kèm Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S được phát hành và quản lý bởi Ngân hàng có hiệu lực từ ngày 15/8/2016, tóm tắt sao kê, Biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ tín dụng mà nguyên đơn cung cấp, lời trình bày của nguyên đơn có cơ sở để xác định bị đơn đã được nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức 45 triệu đồng. Hai bên thỏa thuận về lãi suất, phí, phương thức thanh toán theo những điều khoản quy định tại Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Quá trình sử dụng thẻ đến nay Bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 453.851.240 đồng, tuy nhiên Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả gốc và lãi theo quy định Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, mới chỉ thanh toán cho nguyên đơn tiền 409.215.000 đồng.
Căn cứ tóm tắt sao kê thẻ tín dụng của bà Hải A, tính đến kỳ 31/01/2018, bà Hải A giao dịch tổng số tiền là 453.851.240 đồng. Tổng số tiền bà Hải A đã thanh toán 409.215.000 đồng, như vậy tiền nợ gốc bà Hải A còn nợ là: 44.935.240 đồng. Cấp sơ thẩm xác định xác định dư nợ gốc của bà Hải A đối với thẻ tín dụng là 44.935.240 đồng là có căn cứ.
[2.2] Về yêu cầu trả nợ lãi: Cấp sơ thẩm căn cứ Điều 95 Luật Tổ chức tín dụng 2010, Điều 5 Thông tư 19/2016/TT-NHNN hoạt động thẻ ngân hàng, trước khi thẻ tín dụng chuyển sang nợ quá hạn thì nợ lãi trong hạn và phí từ ngày 31/7/2017 đến ngày 31/01/2018 là 6.870.056 đồng là có căn cứ.
Đối với lãi quá hạn: Ngân hàng yêu cầu Bị đơn thanh toán lãi quá hạn đối với toàn bộ dư nợ là 51.805.296 đồng. Yêu cầu này phù hợp với thỏa thuận tại mục 1.9 Bản điều khoản về xác định dư nợ nhưng không phù hợp với quy định về nợ gốc bị chuyển nợ quá hạn tại điểm a khoản 11 Điều 2 Thông tư 39/2016 dẫn đến lãi chồng lãi. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với nợ lãi quá hạn, lãi quá hạn trên dư nợ gốc là 44.935.240 đồng, từ 01/02/2018 đến ngày 27/8/2024, nợ lãi quá hạn được xác định như sau: 44.935.240 đồng x 3.3%/tháng x 2400/30 = 118.629.034 đồng là có căn cứ.
Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội về việc xác định lại số tiền, gốc và lãi theo quy định của pháp luật.
Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 46/2024/DS-ST ngày 27.08.2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000đ đã đóng tại biên lai số 0033671 ngày 24.09.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Mai Hoa |
Bản án số 89/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 89/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp dồng tín dụng
