|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày 12/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Lê Văn Mỳ
- + Ông Đặng Văn Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mến – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đặng Văn N; Giới tính: Nam; Sinh ngày 06 tháng 7 năm 1974, tại Campuchia; Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo; Nghề nghiệp: Làm rẫy thuê; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Họ tên cha: Đặng Văn E, đã chết; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L - sinh năm 1933, còn sống; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ năm; có vợ Hoàng Thị T - sinh năm 1979 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 08/01/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
2. Tạ Hoài N1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 18 tháng 12 năm 1983, tại tỉnh Hưng Yên; Nơi cư trú: Ấp A, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy thuê; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; Họ tên cha: Tạ Quang Đ - sinh năm 1953, còn sống; Họ tên mẹ: Mai Thị H - sinh năm 1956, còn sống; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là thứ hai; có vợ Nguyễn Thị T1 - sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 08/01/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú
3. Đoàn Mạnh H1; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988, tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: Tổ C, ấp 3, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Họ tên cha: Đoàn Xuân K - sinh năm 1959, còn sống; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị M - sinh năm 1962, còn sống; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ ba; có vợ Trần Thị Thanh L1 -sinh năm 1989 và có 01 con sinh năm 2022.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 08/01/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Trần Thị H2; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 03 tháng 6 năm 1967, tại tỉnh Bắc Ninh; Nơi cư trú: Tổ A, ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Lớp 07/12; Họ tên cha: Trần Đức H3, đã chết; Họ tên mẹ: Phan Thị T2, đã chết; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là thứ năm; có chồng Vũ Đình C1 - sinh năm 1962 và có 04 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 2002.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/03/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tuyên phạt 8.000.0000 đồng về tội “Đánh bạc”. Ngày 08/09/2016, chấp hành xong các quyết định của bản án.
Bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 02/01/2024 đến ngày 08/01/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú.
* Người làm chứng: Bà Cao Thị X, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai.
(Các bị cáo có mặt; Người làm chứng bà X vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 02/01/2024, Tạ Hoài N1 cùng Đặng Văn N đến quán bán đồ ăn sáng và cà phê của Trần Thị H2 tại ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Sau đó N1 có nhu cầu đánh bạc nên hỏi H2 để mua bài tây, H2 đồng ý và vào quán lấy 10 bộ bài Tây bán cho N1. Khoảng 15 phút sau, Đoàn Mạnh H1, Nguyễn Thùy T3 đến quán nước gặp N1 và N nói chuyện được một lúc, rồi rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi bài “Phỏm” như sau: Người chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá chia cho 04 người, mỗi người chơi 09 lá bài, trừ người chia bài được 10 lá, số lá bài còn lại trong bộ bài được đặt trên chiếu bạc, người đánh bạc xếp 03 lá giống nhau thành một phỏm hoặc một phỏm có từ 03 lá bài trở lên liền kề nhau, đồng chất. Người nào có 03 phỏm gọi là “Ù”, ba người còn lại thua bạc, mỗi người thua số tiền là 50.000 đồng cho người “Ù”. Nếu không có người “Ù” thì ván bài đánh kết thúc sau 04 vòng, lúc này người chơi hạ phỏm và tính điểm các lá bài lẻ còn lại theo cách tính: từ là bài A (còn gọi là át) đến là bài K được tính tương ứng từ 1 đến 13 điểm). Bài của ai thấp điểm nhất thì về nhất và thắng số tiền 10.000 của người về nhì, 20.000 đồng của người về ba, 30.000 đồng của người về bốn; người nào đánh lá bài thứ tư (còn gọi chốt hạ) nếu bị ăn thì thua số tiền 40.000 đồng cho tụ ăn được lá bài chốt hạ. Trường hợp kết thúc ván bài (không ù) mà người nào không có phỏm gọi là “Cháy” thì thua số tiền là 40.000 đồng.
N1, T3, H1, N đánh bạc đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã P, huyện V kiểm tra phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V giải quyết theo quy định pháp luật.
- Tang vật thu giữ:
- + T4 tại chiếu bạc: 2.120.000 đồng; 10 bộ bài Tây (trong đó 03 bộ đã qua sử dụng, 07 bộ chưa sử dụng).
- + Thu trên người các đối tượng: Đặng Văn N 780.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 6S; Tạ Hoài Nam 2.516.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone 11; Nguyễn Thùy T3 01 điện thoại di động N2; Trần Thị H2 01 điện thoại di động Oppo A55; Đoàn Mạnh H1 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã giao trả: Đặng Văn N 01 điện thoại di động Iphone 6S; Tạ Hoài Nam 01 điện thoại di động Iphone 11; Trần Thị H2 01 điện thoại di động Oppo A55; Đoàn Mạnh H1 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus. Đối với điện thoại di động N2 1280 của Nguyễn Thùy T3, quá trình điều tra T3 đã bỏ đi khỏi địa phương nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tách ra xử lý khi bắt được T3.
- Kết quả điều tra xác định tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 5.416.000đồng, trong đó số tiền tham gia đánh bạc của từng bị cáo như sau:
- + Tạ Hoài N1 mang theo 3.216.000đồng đánh bạc, thua bạc 500.000đồng, còn 200.000đồng để dưới chiếu bạc, khi bắt quả tang thu giữ 2.516.000đồng là tiền đánh bạc.
- + Nguyễn Thùy T3 mang theo 1.150.000đồng đánh bạc, thắng bạc 470.000đồng, khi bắt quả tang tiền để dưới chiếu bạc.
- + Đặng Văn N mang theo 650.000đồng đánh bạc, thắng bạc 130.000đồng, khi bắt quả tang thu giữ 780.000đồng là tiền đánh bạc.
- + Đoàn Mạnh H1 mang theo 400.000đồng đánh bạc, thua bạc 100.000đồng, khi bắt quả tang tiền để dưới chiếu bạc.
Cáo trạng số 88/CT-VKSVC ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Hoài N1, Đoàn Mạnh H1 và Trần Thị H2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phát biểu quan điểm luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Hoài N1, Đoàn Mạnh H1 và Trần Thị H2 phạm tội đánh bạc.
Về điều luật áp dụng và mức hình phạt đề nghị:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm b khoản 1 Điều 32, khoản 1, 3 Điều 35, Điều 50, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt các bị cáo:
Đặng Văn N; Tạ Hoài N1; Đoàn Mạnh H1 hình phạt chính là phạt tiền với mức từ 20.000.000đ đến 25.000.000đ.
- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Thị H2: 04 tháng đến 06 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo theo quy định.
Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo H2 từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ.
- - Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.416.000đồng là số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc.
- + Tịch thu tiêu hủy 10 bộ bài Tây.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái pháp luật; các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người làm chứng có tại hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
- Về việc xét xử vắng mặt người làm chứng: Tòa án đã triệu tập người làm chứng bà Cao Thị X nhưng bà X vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Xét lời khai của bà X đã có đầy đủ tại hồ sơ vụ án, cũng như không có yêu cầu gì khác trong vụ án nên việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Tòa án căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt bà X.
[2]. Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ ngày 02/01/2024, tại quán của Trần Thị H2 thuộc ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai, Trần Thị H2 cung cấp bài Tây, địa điểm cho Đặng Văn N, Đoàn Mạnh H1, Nguyễn Thùy T3, Tạ Hoài N1 đánh bạc hình thức đánh bài “Phỏm”, với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.416.000 đồng.
Như vậy, các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Hoài N1, Đoàn Mạnh H1 và Trần Thị H2 có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền với tổng số tiền trên 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nên hành vi này đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) như nội dung bản Cáo trạng số 88/CT-VKSVC ngày 14/5/2024 của VKSND huyện Vĩnh Cửu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như vai trò của các bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt dẫn đến việc quyết định hình phạt đối với từng bị cáo: Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo tuy là hành vi phạm vào tội ít nghiêm trọng nhưng lại là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất an ninh - xã hội, là một loại khách thể được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là người đã trưởng thành, có kinh nghiệm sống; là những người từng trải, có tuổi đời, có đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi để nhận biết đâu là hành vi đúng đắn; bản thân các bị cáo nhận biết rất rõ rằng việc đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới bất kỳ hình thức nào là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tới cùng. Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, tổ chức phân công nhiệm vụ nên phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, vai trò tham gia phạm tội cụ thể như sau:
Các bị cáo Đặng Văn N, Đoàn Mạnh H1, Tạ Hoài N1 cùng tham gia đánh bạc với vai trò thực hành.
Bị cáo Trần Thị H2 cung cấp địa điểm, dụng cụ đánh bạc cho các bị cáo khác là đồng phạm vai trò giúp sức.
[4]. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- + Các bị cáo Đặng Văn N, Đoàn Mạnh H1, Tạ Hoài N1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa các bị cáo Tạ Hoài N1, Đặng Văn N cung cấp tình tiết gia đình có hoàn cảnh khó khăn theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- + Bị cáo Trần Thị H2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Hoài N1, Đoàn Mạnh H1 phạm tội với vai trò thực hành nhưng đều là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình tại ngoại chấp hành tốt, không vi phạm pháp luật. Việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ răn đe, đồng thời không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và xét thái độ của các bị cáo từ giai đoạn điều tra đến nay đều có khả năng tự cải tạo. Việc quyết định hình phạt như trên vừa thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta, cũng như cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
Bị cáo Trần Thị H2 mặc dù không có tình tiết tăng nặng, phạm tội với vai trò giúp sức, chưa được hưởng lợi nhưng nhân thân bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt cùng về hành vi “Đánh bạc”, hiện đã xóa án tích, bị cáo lại không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội như trước thể hiện sự xem thường pháp luật, không có ý thức cảnh tỉnh, giáo dục bản thân do đó cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, xét bị cáo cũng đã lớn tuổi, nhận thức pháp luật có một phần hạn chế, có nghề nghiệp tại địa phương ổn định, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà xử phạt tù bị cáo nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo đồng thời phạt tiền bổ sung cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[5]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả Đặng Văn N 01 điện thoại di động Iphone 6S; Tạ Hoài Nam 01 điện thoại di động Iphone 11; Trần Thị H2 01 điện thoại di động Oppo A55; Đoàn Mạnh H1 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án.
Đối với điện thoại di động N2 1280 của Nguyễn Thùy T3, quá trình điều tra T3 đã bỏ đi khỏi địa phương nên chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tách ra xử lý khi bắt được T3 là phù hợp.
Căn cứ Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.416.000đồng.
- + Tịch thu tiêu huỷ 10 bộ bài tây.
[6]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[7]. Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng Nguyễn Thùy T3 tham gia đánh bạc cùng các bị cáo trong vụ án, quá trình điều tra T3 đã bỏ đi khỏi địa phương nên chưa làm việc được yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiếp tục xác minh xử lý theo quy định.
[8]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận phần phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 45, 46, 250, 254, 255, 259, 260, 262, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, các Điều 293, 298, 299, 326, 327, 331, 333, 336, 337, 339 và Điều 509 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 1, Điều 4, khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.
[1]. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Hoài N1, Đoàn Mạnh H1 và Trần Thị H2 phạm tội “Đánh bạc”.
[2]. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm b khoản 1 Điều 32, khoản 1, 3 Điều 35, Điều 50, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Đặng Văn N, Tạ Hoài N1 và Đoàn Mạnh H1; Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với hai bị cáo Đặng Văn N và Tạ Hoài N1; xử phạt:
- + Bị cáo Đặng Văn N hình phạt chính số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng)
- + Bị cáo Tạ Hoài N1 hình phạt chính số tiền 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).
- + Bị cáo Đoàn Mạnh H1 hình phạt chính số tiền 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
2.2. Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Thị H2: 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo Trần Thị H2: 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
Giao bị cáo Trần Thị H2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện V, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt tù của bản án mới theo quy định. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 2 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Xử lý vật chứng:
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.416.000đồng.
- + Tịch thu tiêu hủy 10 bộ bài tây (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).
4. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đồng Thị Hồng |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ ngày 02/01/2024, tại quán của Trần Thị Hồng thuộc ấp 3, xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, Trần Thị Hồng cung cấp bài Tây, địa điểm cho Đặng Văn Nghiệp, Đoàn Mạnh Hùng, Nguyễn Thùy Tiên, Tạ Hoài Nam đánh bạc hình thức đánh bài “Phỏm”, với tổng số tiền tham gia đánh bạc là 5.416.000 đồng.
