Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HSST

Ngày 05 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Phước Tân và ông Võ Hoàng Nghiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/HSST, ngày 23 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 317/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 và thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số: 340/TB-TA ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T (Cát), sinh năm 1979; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Phạm Thị T1; vợ Nguyễn Thị Ánh T2 và có 02 người con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người giám hộ cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1989; địa chỉ: Khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1964; địa chỉ: Khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Người làm chứng: Ông Vũ Tiến C1; Nguyễn Tuyết Q; (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/6/2024, Nguyễn Văn T đến căn trại của Nguyễn Văn N, địa chỉ: khóm A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang. T thấy xe mô tô biển kiểm soát 68P1-528.67 của ông N đang dựng trong căn trại nên T tìm chìa khoá xe rồi mở cốp xe lấy hai túi vải màu đen bên trong có chứa tiền. Sau đó, T đi bộ đến trước cửa hàng M (cách căn trại của ông N khoảng 50 mét), ngồi trên ghế đá kiểm tiền vừa lấy trộm. Cùng lúc, ông N kiểm tra camera an ninh qua điện thoại di động phát hiện T lấy trộm tiền nên cùng ông Q đi tìm thì gặp T đang ngồi kiểm tiền nên đưa T cùng tang vật đến Công an thị trấn A và trình báo vụ việc. Qua làm việc, T thừa nhận hành vi lấy trộm số tiền 4.032.000 đồng của ông N.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) túi vải màu đen hiệu HONGYUNDA; 01 (một) túi vải màu đen hiệu YATEHU (đã qua sử dụng); 01 (một) đĩa DVD-R; tiền Việt Nam 4.032.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra, nhận thấy T có biểu hiện nghi vấn bệnh tâm thần nên ngày 03/7/2024, Cơ quan điều tra trưng cầu Trung tâm P giám định tâm thần đối với T.

Căn cứ Bản Kết luận giám định Pháp y tâm thần theo trưng cầu số 338/2024/KLGĐ, ngày 05/9/2024 của Trung tâm P kết luận:

  • Về y học: Trước, trong, sau ngày 05/6/2024 và hiện nay: Đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng bia rượu (F10.71-ICD10);
  • Về khả năng nhận thức điều khiển hành vi: Tại thời điểm ngày 05/6/2024 đương sự hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi;

Căn cứ vào giải thích Kết luận giám định pháp y tâm thần số 338.0/PYTTNB và 338.2/PYTTNB của Trung tâm P kết luận: hiện nay, Nguyễn Văn T có năng lực trách nhiệm hình sự và không có căn cứ xác định đương sự có thuộc người có nhược điểm về tâm thần.

Cáo trạng số: 75/CT-VKSAP-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Lời khai của bị hại Nguyễn Văn N trong quá trình điều tra phù hợp nội dung vụ án. Ông N đã nhận lại tài sản mất trộm, yêu cầu xử lý hành vi của bị cáo theo quy định và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Bị cáo T, người giám hộ bà T3 không bào chữa và tranh luận gì. Bị hại ông N không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên toà, người làm chứng vắng mặt, dù đã được Toà án tống đạt hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của người làm chứng không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 05/6/2024, bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 4.032.000 đồng của ông Nguyễn Văn N. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; ảnh hưởng

xấu tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có hiểu biết nhất định về pháp luật nhưng với lối sống lười lao động, thường xuyên nghiện rượu. Để thoả mãn nhu cầu sử dụng rượu của bản thân mà không phải lao động cực nhọc bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và truộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Tài sản mất trộm đã trả lại cho bị hại; bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy: Trước khi phạm tội, bị cáo là người có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm ít trọng, bị cáo hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do đó, việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Đây là cơ hội để bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và biệp pháp tư pháp: Tài sản bị mất trộm đã được thu hồi, trao trả cho bị hại ông Nguyễn Văn N. Quá trình điều tra ông N không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T (C2) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s, q khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T (Cát) 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo T, người giám hộ bà T3, bị hại N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 05/12/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - Công an huyện An Phú;
  • - CQTHAHS Công an huyện An Phú;
  • - Nhà tạm giữ - Công an huyện An Phú;
  • - Chi cục THADS huyện An Phú;
  • - Ủy ban nhân dân thị trấn An Phú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Hành chính tư pháp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HSST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 89/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn văn T Phạm tội trậm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger