|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày 28-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Chín
- Ông Nguyễn Đức Thiện
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Đỗ Việt Đ
- sinh ngày 30 tháng 12 năm 1990 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu C, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn K, sinh năm 1963 và bà Trần Thị L, sinh năm 1968; bị cáo có vợ là Phùng Thị T, sinh năm 1990 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2010; tiền sự: Không; tiền án: Không; Nhân thân: Bản án số 301/2011/HSST ngày 28/12/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đỗ Việt Đ 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", Đ đã chấp hành xong hình phạt tù và đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 28/12/2011; Bản án số 111/2016/HSST ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt Đỗ Việt Đ 36 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", Đ đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/05/2018 và đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm và tiền truy thu sung quỹ Nhà nước theo quyết định của Bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 06/3/2024, chuyển tạm giam ngày 15/3/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt).
+ Bị hại:
- Chị Nguyễn Việt T1, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Chị Lê Đỗ Ngọc Q, sinh năm 1997
Địa chỉ: Khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1968
Địa chỉ: Tổ B, khu C, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Anh Nguyễn Tùng G, sinh năm 1980
Địa chỉ: Tổ I, khu D, phường D, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 02/3/2024, Đỗ Việt Đ một mình cầm theo 01 dao dạng dao Thái Lan dùng để gọt quả dài 25 cm, có chuôi cầm bằng nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại đi bộ trên đường H thuộc phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ mục đích tìm những phụ nữ đi xe ô tô một mình quanh khu vực thành phố V để khống chế yêu cầu họ phải đưa tiền cho Đ. Khi đi đến khu vực trước cửa Tòa nhà V Phú Thọ thuộc khu A, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Đ quan sát thấy chị Nguyễn Việt T1 đang từ trong Tòa nhà V đi ra và lên xe ô tô nhãn hiệu Huyndai CRETA màu trắng, BKS: 19A-501.74 để di chuyển, Đ nhanh chóng đi lại mở cửa xe phía sau rồi lên xe, ngồi ở hàng ghế phía sau. Chị T1 thấy Đ lên xe nên hoảng sợ vội mở cửa xe phía trước để bước ra ngoài thì bị Đ dùng tay túm tóc chị T1 giật quay trở lại ngồi tại vị trí ghế lái rồi Đ dùng phần lưỡi dao kè vào cổ chị T1 yêu cầu chị T1 đóng cửa xe lại, Đ nói với chị T1: "Cấm la hét", "Im ngay trong túi có bao nhiêu tiền đưa hết đây". Sau đó Đ tiếp tục uy hiếp tinh thần chị T1 bằng việc yêu cầu chị T1 chở Đ lên đoạn đường P gần nút giao cao tốc IC7 để Đ đón xe đi trốn vì Đ vừa gây án trên địa bàn thành phố V. Trên đường đi, Đ còn nói với chị T1 mình tên H, sinh năm 1990 nhà ở phường M, thành phố V với chủ định nếu chị T1 có trình báo Công an sẽ không tìm được Đ. Khi đi đến gần nút giao cao tốc IC7, Đ yêu cầu chị T1 rẽ vào đường dân sinh thuộc xã P, thành phố V gần Trạm thu phí rồi yêu cầu chị T1 dừng xe. Đ dùng dao đe dọa chị T1 đưa tiền cho Đ, chị T1 hoảng sợ nên đã lấy hết số tiền có trong ví là 700.000 đồng đưa cho Đ. Thấy số tiền chị T1 đưa ít nên Đ tiếp tục yêu cầu chị T1 vay tiền của người thân chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thể L1 sinh năm 1986 ở phường D, thành phố V (bạn quen biết với Đ, Đ có số tài khoản ngân hàng của L1) cho Đ nhưng do tài khoản của chị T1 không còn tiền và chị T1 nói với Đ không vay tiền ai bao giờ và nếu chị gọi điện vay thì mọi người sẽ nghi ngờ nên Đ không lấy thêm
tài sản gì của chị T1 nữa. Sau đó, Đ bảo chị T1 chở Đ đến khu vực gần chợ M thuộc phường D, thành phố V, Đ xuống xe, còn chị T1 điều khiển xe ô tô đi về nhà.
Ngày 06/3/2024, chị T1 đã đến Công an thành phố V đề trình báo sự việc. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố V ra Thông báo truy tìm đối tượng gây án. Quá trình rà soát, đến 10 giờ 30 phút ngày 06/3/2024 Đội điều tra hình sự - Công an thành phố V phối hợp cùng Công an phường N tiến hành kiểm tra nhà nghỉ P thuộc khu I, phường N, thành phố V phát hiện Đỗ Việt Đ đang ở tại phòng 304 của nhà nghỉ. Quá trình kiểm tra, Cơ quan Công an thu giữ của Đ: 01 dao dạng dao Thái Lan dùng để gọt quả dài 25cm, có chuôi cầm bằng nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại; 01 áo khoác màu đỏ cam; 01 quần dài màu đen; 01 đôi giày thể thao nhiều màu sắc; 01 mũ lưỡi trai màu trắng xám (các đồ vật, quần áo thu giữ đều đã qua sử dụng). Tại chỗ, Đ khai nhận con dao và trang phục bị thu giữ trên là đồ vật Đ sử dụng khi thực hiện hành vi cướp tài sản của chị T1.
Tại Cơ quan điều tra, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp tài sản như đã nêu trên. Đối với số tiền đã chiếm đoạt của chị T1, Đ đã sử dụng 526.000 đồng để mua ma túy Heroine của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực chợ T2 V, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 02/3/2024 và đã sử dụng hết số ma túy này. Số tiền còn lại là 174.000 đồng Đ đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Cùng ngày 06/3/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đ. Quá trình khám xét, không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Ngoài hành vi cướp tài sản của chị Nguyễn Việt T1 như đã nêu trên, tại Cơ quan điều tra, Đ tự khai nhận đã thực hiện hành vi cướp tài sản của chị Lê Đỗ Ngọc Q vào ngày 18/02/2024 như sau: Khoảng 20 giờ ngày 18/02/2024, Đ một mình đi bộ trên đường Q thuộc phường T, thành phố V, khi đi đến trước cửa hàng W, Đ nhìn thấy chị Lê Đỗ Ngọc Q từ trong cửa hàng đi ra, quan sát thấy chị Q bụng to biết chị Q đang mang thai và lên xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA màu trắng, BKS: 19A - 572.50, Đ lập tức lên xe ô tô của chị Q ngồi ghế phía sau. Chị Q thấy vậy nghĩ là Đ trêu nên nói: "Đùa à, xuống khỏi xe ngay" và yêu cầu Đ xuống xe. Lúc này, Đ dùng tay trái vòng qua ghế lái bóp vào cổ chị Q, còn tay phải cầm dao mang theo từ trước dí vào bụng của chị Q (mặc dù Đ biết bụng chị Q to vì đang mang thai), Đ yêu cầu chị Q lái xe đưa Đ lên đoạn đường đê gần bến phà Đ thuộc phường D, thành phố V để trốn vì Đ vừa đánh nhau. Đ nói vậy với chị Q nhằm mục đích uy hiếp tinh thần làm chị Q nghĩ Đ là người manh động, liều lĩnh từ đó chị Q hoảng sợ, làm theo mọi yêu cầu của Đ và đưa tiền cho Đ. Chị Q nói chị không có tiền mặt thì Đ yêu cầu chị chuyển khoản. Trên đường đi, Đ yêu cầu chị Q đưa điện thoại cho Đ để Đ gọi điện cho anh Nguyễn Tùng G, là bạn quen biết với Đ để bảo G gửi số tài khoản ngân hàng của G cho chị Q chuyển khoản. Đ nói với G: "Anh nhắn cho em xin số tài khoản vào số điện thoại này, lát có bà chị gửi cho em một triệu vào đấy, xong anh lên gần bến phà Đ đón em". Vì là bạn bè nên G tin tưởng và nhắn số tài khoản cho Đ. Sau khi G gửi tin nhắn từ điện thoại của G có số thuê bao 0989548204 số tài khoản ngân hàng V1 số: [...] mang tên Nguyễn Tùng G đến điện thoại của chị Q, Đ đã yêu cầu chị Q chuyển 1.000.000
đồng vào tài khoản của G. Do bị Đ khống chế, đe dọa nên chị Q hoảng sợ, dừng xe ven đường Đ gần bến phà Đ rồi chuyển 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V1 số tài khoản 105873331368 của chị đến số tài khoản ngân hàng V1 số: [...] của G. Sau khi thấy chị Q báo đã chuyển tiền thành công cho G, Đ xuống xe, đi bộ ra chỗ G đỗ xe đón gần đó rồi bảo G chở Đ đến khu vực chợ M. Còn chị Q lái xe đi về nhà. Do hoảng sợ và bận công việc nên ngày 13/3/2024 chị Q mới đến Cơ quan công an để trình báo lại sự việc. Khi đi xe cùng G, Đ nói với G số tiền 1.000.000 đồng chị Q chuyển thì Đ trả G 300.000 đồng là tiền Đ nợ G khi đi xe taxi của G từ trước, còn lại 700.000 đồng G đưa lại cho Đ, Đ cầm tiền và đi về nhà, số tiền này Đ đã chi tiêu cá nhân hết.
Trong quá trình điều tra, bà Trần Thị L là mẹ đẻ của Đ đã nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 1.700.000 đồng để khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của Đ gây ra. Cơ quan điều tra đã trả cho chị Nguyễn Việt T1 số tiền 700.000 đồng và trả số tiền 1.000.000 đồng cho chị Lê Đỗ Ngọc Q. Chị T1 và chị Q đã nhận số tiền trên, không yêu cầu Đ phải bồi thường gì thêm.
Ngày 15/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Đỗ Việt Đ về tội: “Cướp tài sản” theo khoản 2 điều 168 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Việt Đ khai nhận như sau: Bị cáo thừa nhận nội dung bản cáo trạng là hoàn toàn đúng. Bị cáo là người nghiện ma tuý, mục đích cướp tài sản để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bị cáo là người chuẩn bị con dao gây án, bị cáo thực hiện hành vi cướp tài sản một mình không bàn bạc rủ rê ai. Anh L2 và anh G không biết việc bị cáo cướp tài sản. Khi cướp tài sản của chị Q bị cáo biết chị Q đang mang thai. Khi bị bắt bị cáo bị tạm giữ: 01 dao dạng dao Thái Lan là công cụ bị cáo dùng thực hiện hành vi cướp tài sản của chị T1 và chị Q; 01 áo khoác màu đỏ cam; 01 quần dài màu đen; 01 đôi giày thể thao nhiều màu sắc; 01 mũ lưỡi trai màu trắng xám là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi cướp tài sản của chị T1. Bị cáo giao nộp số tiền 174.000 đồng là số tiền còn lại sau khi cướp của chị T1. Mẹ bị cáo nộp số tiền 1.700.000 đồng để trả cho các bị hại. Bị cáo đề nghị trả lại số tiền 174.000 đồng cho mẹ bị cáo; 300.000 đồng trả cho anh G và quần áo, giày bị cáo mặc khi thực hiện hành vi phạm tội đề nghị tiêu huỷ. Bị cáo lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản.
Cáo trạng số 89/CT-VKS-VT ngày 31/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị can Đỗ Việt Đ về tội: “Cướp tài sản” quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì giữ quyền công tố giữ nguyên cáo trạng truy tố, công bố bản luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt Đ phạm tội: “Cướp tài sản”.
Áp dụng điểm d, e khoản 2 điều 168, điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Đỗ Việt Đ từ 09 năm tù đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 06/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 Bộ luật hình sự:
Xác nhận chị Nguyễn Việt T1 đã nhận số tiền 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) do bà Trần Thị L là mẹ đẻ bị cáo tự nguyện bồi thường là hợp pháp.
Xác nhận chị Lê Đỗ Ngọc Q đã nhận số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) do bà Trần Thị L là mẹ đẻ bị cáo tự nguyện bồi thường là hợp pháp.
-Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bà Trần Thị L số tiền 174.000đ (Một trăm bảy mươi tư nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0004763 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Trả lại cho anh Nguyễn Tùng G số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0004763 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Tịch thu của bị cáo Đỗ Việt Đ: 01 dao dạng dao Thái Lan dùng để gọt quả dài 25 cm, có chuôi cầm bằng nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại; 01 áo khoác gió màu đỏ cam; 01 quần gió dài màu đen; 01 đôi giày thể thao nhiều màu sắc; 01 mũ lưỡi trai màu trắng xám đều đã qua sử dụng để tiêu huỷ.
-Về án phí: Bị cáo Đỗ Việt Đ phải chịu 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định:
Khoảng 11 giờ ngày 02/3/2024 tại khu vực trước cửa Tòa nhà V Phú Thọ thuộc khu A, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Đỗ Việt Đ có hành vi mở cửa xe ô tô, ngồi vào vị trí ghế sau xe ô tô của chị Nguyễn Việt T1, chị T1 phát hiện Đ
lên xe, chị bước ra khỏi xe thì bị Đ dùng tay túm tóc giật chị ngồi lại tại vị trí ghế lái, rồi Đ dùng dao nhọn kè vào cổ chị T1 khống chế không cho chị hô mọi người trợ giúp. Sau đó Đ yêu cầu chị T1 lái xe chở Đ lên khu vực vắng người tại ngõ rẽ vào đường dân sinh thuộc xã P, thành phố V gần Trạm thu phí cao tốc IC7 rồi yêu cầu chị T1 dừng xe, Đ dùng dao đe dọa làm chị T1 hoảng sợ lấy tiền trong ví đưa cho Đ. Số tiền Đ chiếm đoạt của chị T1 là 700.000 đồng.
Khoảng 20 giờ ngày 18/02/2024 tại khu vực trước cửa hàng WINMART trên đường Q thuộc phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, với cách thức, thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội như trên, Đ mở cửa xe và ngồi lên ghế sau xe ô tô của chị Lê Đỗ Ngọc Q, chị Q yêu cầu Đ xuống xe để chị di chuyển thì Đ liền dùng tay trái của Đ vòng qua ghế lái bóp vào cổ chị Q, còn tay phải cầm dao mang theo từ trước dí vào bụng của chị Q mặc dù Đ biết chị Q đang mang thai, rồi Đ yêu cầu chị Q lái xe đưa Đ lên đoạn đường đê gần bến phà Đ thuộc phường D, thành phố V. Đến nơi, Đ yêu cầu chị Q phải chuyển khoản tiền theo yêu cầu của Đ. Số tiền Đ chiếm đoạt của chị Q là 1.000.000 đồng đã chi tiêu cá nhân hết.
Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đỗ Việt Đ phạm tội: “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d, e khoản 2 điều 168 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều khoản trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự đượ nhằm chiếm đoạt tài sản thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm ……
d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ...”.
Đối với anh Nguyễn Tùng G và anh Nguyễn Thế L3, là những người Đ nhờ gửi số tài khoản ngân hàng cho Đ để yêu cầu chị Q, chị T1 chuyển tiền cho Đ; anh G không biết đây tiền Đ chiếm đoạt của chị Q; anh G, anh L3 không được bàn bạc, không được hưởng lợi từ hành vi phạm tội của Đ nên cơ quan điều tra Công an thành phố V không đề cập xử lý đối với anh G và anh L3 là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ ngày 02/3/2024 tại thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc như Đ khai, do Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Ngoài lời khai của Đ, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
[3].Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Hành vi bị cáo đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, do vậy cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Năm 2011 và năm 2016, bị cáo đã bị Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xử phạt tù về các tội phạm về ma tuý đã chấp hành án phạt tù tại Trại giam nhưng trở về địa phương, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện các hành vi cướp tài sản, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và mẹ đẻ bị cáo bà Trần Thị L đã thay bị cáo bồi thường cho bị hại quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật hình sự. Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo sửa chữa được tội lỗi mà bị cáo đã phạm. Đối với bị cáo cần áp dụng hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì đề nghị là phù hợp.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Tại khoản 6 điều 168 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt quản chế, cám cư trú từ 1 năm đến 5 năm, tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, bà Trần Thị L là mẹ đẻ bị cáo Đ đã tự nguyện nộp số tiền 1.700.000 đồng để bồi thường cho các bị hại. Bị hại chị T1 và chị Q đã nhận đủ số tiền bị cáo chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên cần xác nhận.
[6]. Về vật chứng và tài sản tạm giữ:
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã thu giữ:
Đối với 01 dao dạng dao Thái Lan dùng để gọt quả dài 25 cm, có chuôi cầm bằng nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại là công cụ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; 01 áo khoác gió màu đỏ cam; 01 quần gió dài màu đen; 01 đôi giày thể thao nhiều màu sắc; 01 mũ lưỡi trai màu trắng xám là trang phục bị cáo mặc khi thực hiện hành vi cướp tài sản của chị T1 vào ngày 02/3/2024 bị cáo không nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số tiền 474.000 đồng. Trong đó có: 174.000đ (Một trăm bảy mươi tư nghìn đồng) là số tiền Đ chiếm đoạt của chị T1 và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) là một phần số tiền mà Đ chiếm đoạt của chị Q do anh Nguyễn Tùng G giao nộp. Quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị L đã tự nguyện giao nộp số tiền 1.700.000₫ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng) để bồi thường cho các bị hại tiền chiếm đoạt; bà L và anh G đề nghị được trả lại số tiền trên và tại phiên toà bị cáo cũng đồng ý nên
cần trả lại cho bà L số tiền 174.000 đồng và trả cho anh G số tiền 300.000đồng là phù hợp,
[7].Về án phí: Bị cáo Đỗ Việt Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d, e khoản 2 điều 168; điểm r, s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52, khoản 1 điều 38 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt Đ phạm tội: “Cướp tài sản”;
P1 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 06/3/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự:
Xác nhận chị Nguyễn Việt T1 đã nhận số tiền 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) do bà Trần Thị L là mẹ đẻ bị cáo tự nguyện bồi thường là hợp pháp.
Xác nhận chị Lê Đỗ Ngọc Q đã nhận số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) do bà Trần Thị L là mẹ đẻ bị cáo tự nguyện bồi thường là hợp pháp.
-Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại cho bà Trần Thị L số tiền 174.000đ (Một trăm bảy mươi tư nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0004763 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Trả lại cho anh Nguyễn Tùng G số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0004763 ngày 21/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
Tịch thu của bị cáo Đỗ Việt Đ: 01 dao dạng dao Thái Lan dùng để gọt quả dài 25 cm, có chuôi cầm bằng nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại; 01 áo khoác gió màu đỏ cam; 01 quần gió dài màu đen; 01 đôi giày thể thao nhiều màu sắc; 01 mũ lưỡi trai màu trắng xám đều đã qua sử dụng để tiêu huỷ. (Có tình trạng, đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày 02/8/2024).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Việt Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thu Hiền |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về cướp tài sản
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Việt Đ phạm tội: "Cướp tài sản"
