TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày 28 - 6 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Ngọc Lợi và bà Hoàng Thị Kim Phượng
- Thư ký phiên tòa: bà Tống Thị Huê – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thị Ngọc H sinh năm 1984 tại tỉnh Ninh Bình
Nơi cư trú: thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/ 12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc T và Nguyễn Thị T1; có chồng Hà Văn X và có ba con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: anh Phạm Việt P sinh năm 2002; nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
- Người làm chứng: chị Trần Thị Thu T2 sinh năm 1986; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9 giờ ngày 04/03/2024, Phạm Thị Ngọc H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo biển kiểm soát 35H7 - 2409 từ nhà đi đến cửa hàng tạp hoá Đăng Khoa của chị Trần Thị Thu T2 sinh năm 1986 ở số E X, thôn T, xã N, thành phố N để mua hàng. Khi đến nơi, H đi vào trong cửa hàng để chọn đồ, lúc này anh Phạm Việt P sinh năm 2002, trú tại thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình cũng đến cửa hàng tạp hóa và đi đến khu vực bán đồ ăn rồi lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng G gọi video cho bạn để chọn đồ. Sau đó anh P để chiếc điện thoại trên bao quẩy, lấy túi nilong đựng quẩy rồi đi ra thanh toán tiền và điều khiển xe về. Khoảng 9 giờ 25 phút cùng ngày, Phạm Thị Ngọc H đi đến khu vực bán đồ ăn của cửa hàng thì phát hiện thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold của anh Phạm Việt P để quên. H nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân nên đã dùng tay phải lấy chiếc điện thoại cho vào túi áo khoác đang mặc trên người rồi đi ra thanh toán tiền hàng và điều khiển xe về nhà. Khi về đến nhà, H lấy chiếc điện thoại vừa trộm cắp được ra thấy điện thoại có cài mật khẩu nên đã tháo sim và cất giấu chiếc điện thoại cùng sim điện thoại trong tủ quần áo của mình. Khoảng 10 giờ cùng ngày, anh P biết mình để quên chiếc điện thoại di động ở cửa hàng tạp hóa đã quay lại tìm nhưng không thấy. Anh P đã nhờ chị Trần Thị Thu T2 trích xuất Camera của cửa hàng phát hiện Phạm Thị Ngọc H đã trộm cắp điện thoại nên đã đến Công an xã N, thành phố N trình báo. Công an xã N, thành phố N triệu tập H lên làm việc, H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold và 01 sim điện thoại số 0344.199.xxx. Ngoài ra còn thu giữ của H 01 áo khoác màu đen nhãn hiệu SANY, 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu nhãn hiệu GRO HELMET, 01 túi xách nữ màu đỏ, nhãn hiệu JIELSHI.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19 ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N kết luận 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max màu vàng Gold có giá trị là 10.000.000 đồng
Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã xử lý vật chứng và tài sản thu giữ như sau:
- + Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold và 01 sim điện thoại số 0344.199.xxx cho chủ sở hữu là anh Phạm Việt P.
- + Chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình để giải quyết cùng vụ án 01 áo khoác màu đen nhãn hiệu SANY, 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu nhãn hiệu GRO HELMET, 01 túi xách nữ màu đỏ, nhãn hiệu “JIELSHI".
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu, đề nghị gì khác .
Tại Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 07 tháng 6 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo Phạm Thị Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bị cáo Phạm Thị Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc H từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án.
- Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen nhãn hiệu SANY, 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu nhãn hiệu GRO HELMET, 01 túi xách nữ màu đỏ, nhãn hiệu “JIELSHI”
- - Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phạm Thị Ngọc H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị Ngọc H khai nhận: Khoảng 9 giờ 25 phút ngày 04/03/2024, khi bị cáo đi mua hàng tại cửa hàng C ở số E X, thôn T, xã N, thành phố N bị cáo đã lấy trộm của anh P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold có giá trị 10.000.000 đồng.
Trong quá trình điều tra bị hại là anh Phạm Việt P khai báo : Sáng ngày 04/3/2024 anh P để quên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold tại cửa hàng C ở thôn T, xã N, thành phố N thì bị Phạm Thị Ngọc H lấy trộm. Anh đã được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có đề nghị, yêu cầu gì.
Tại phiên tòa bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi phạm tội của bị cáo và trách nhiệm hình sự: tại phiên toà bị cáo H khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên đủ căn cứ kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/3/2024 Phạm Thị Ngọc H đã lén lút chiếm đoạt của anh Phạm Việt P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold có giá trị là 10.100.000 đồng tại cửa hàng C ở số E, đường X, thôn T, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân và gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Phạm Thị Ngọc H phạm tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo H được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự .
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là tương xứng. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lần đầu phạm tội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo cũng như đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm.
[2] Về trách nhiệm dân sự: anh P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có đề nghị, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu vàng Gold và 01 sim điện thoại số 0344.199.xxx cho chủ sở hữu là anh Phạm Việt P là có căn cứ
Đối với 01 áo khoác màu đen nhãn hiệu SANY, 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu nhãn hiệu GRO HELMET, 01 túi xách nữ màu đỏ, nhãn hiệu “JIELSHI” là tài sản của bị cáo H. Các tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không có giá trị sử dụng và bị cáo H không có yêu cầu nhận lại. Do đó tịch thu tiều hủy các tài sản trên theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Novo biển kiểm soát 35H7 – 2409 là của anh Hoàng Văn K sinh năm 1982, trú tại thôn K, xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình. Sáng ngày 04/3/2024, Hoàng Ngọc H1 sinh ngày 09/9/2009 là con của anh K đã tự lấy chiếc xe mô tô đi học và đến nhà bị cáo H chơi. Sau đó bị cáo H đã mượn chiếc xe mô tô trên của H1 đi đến cửa hàng C. Anh K và cháu H1 không biết H sử dụng chiếc xe trên đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ thu giữ chiếc xe mô tô và xử lý đối với anh K và cháu H1. Tuy nhiên hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi chưa đủ tuổi của Hoàng Ngọc H1 đã vi phạm vào quy định tại Điều 60 Luật Giao thông đường bộ. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện H, tỉnh Ninh Bình đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Ngọc H1 theo quy định tại khoản 1, Điều 21 Nghị định 03/VBHN-BGTVT ngày 14/01/2022 của Bộ G1 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo H bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- - Quyền kháng cáo: bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[5] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ngọc H 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 28/6/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N,huyện H, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì được thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen nhãn hiệu SANY, 01 mũ bảo hiểm màu xanh rêu nhãn hiệu GRO HELMET và 01 túi xách nữ màu đỏ, nhãn hiệu “JIELSHI"
(Tài sản trên hiện đang được quản lý tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố N và có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024 giữa Công an thành phố N và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố N).
- Về án phí: bị cáo Phạm Thị Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 28/6/2024); bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Phương |
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Ngọc H phạm tội Trộm cắp tài sản
