|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/HS-ST Ngày: 20 - 5 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Thế Huệ
- Ông Nguyễn Trọng Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 09/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 03/5/2024 đối với các bị cáo:
- Trần Văn H – sinh năm 1990, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: SN A, Đường N, tiểu khu A, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ và bà Lê Thị T; Có vợ là Đặng Mỹ H1 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/6/2016 Công an thị trấn T, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây thương tích; Tạm giữ: ngày 04/01/2024; Quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ: ngày 12/01/2024; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Lê Đình D – sinh năm 1983, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: SN A, đường N, tiểu khu A, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; Có vợ là Phạm Thị T3 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/6/2002 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản”; Tạm giữ: ngày 04/01/2024; Quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ: ngày 12/01/2024; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đều vắng mặt.
- Chị Cao Thị G - sinh năm: 1993.
Trú tại: TDP V, phường N, TX N, tỉnh Thanh Hóa.
1
- Anh Lê Tuấn Q - sinh năm: 1989.
Trú tại: SN C, N, Tiểu khu B, phường H, TX N, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng: Đều vắng mặt.
- Chị Hoàng Thị T4 - sinh năm: 1994.
- Chị Vũ Thị Kim T5 - sinh năm: 1996.
Trú tại: TDP Đ, phường N, TX N, tỉnh Thanh Hóa.
Trú tại: Tiểu khu F, phường H, TX N, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng thời gian từ đầu năm 2022 đến ngày bị bắt, Trần Văn H lợi dụng việc một số người dân trên địa bàn TX N, tỉnh Thanh Hóa có nhu cầu vay tiền để chi tiêu, làm ăn, H đã cho những người này vay tiền với lãi suất cao, 10.000 đồng/1 triệu đồng/1 ngày (tương đương với mức lãi suất từ 365%/năm, gấp 18.25 lần lãi suất theo quy định tại Bộ luật dân sự).
Khi có khách vay tiền, Trần Văn H thoả thuận, thống nhất về số tiền cho vay, lãi suất, quy định 01 tháng đóng lãi một lần, tiền lãi tháng đầu tiên được cắt trực tiếp vào tiền gốc khi vay. Sau đó, đưa tiền trực tiếp hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng cho người vay.
Quá trình hoạt động cho vay, đối tượng thu các khoản tiền lãi, tiền gốc từ người vay bằng hình thức nhận tiền mặt trực tiếp hoặc nhận qua chuyển khoản internet banking đến tài khoản mở tại ngân hàng TMCP Q1 (M), số tài khoản 1199991239999 của Trần Văn H sử dụng.
- Đối với trường hợp của chị Cao Thị G, sinh năm 1993, trú tại TDP. Văn Sơn, P. N, TX. N:
- - Khoảng đầu tháng 02/2022, H cho chị G vay số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để giải quyết công việc cá nhân, hai bên thỏa thuận tiền lãi sẽ được đóng theo chu kỳ 30 ngày/lần, có thể chia làm nhiều lần đóng trong một kỳ lãi. Khi cho vay tiền, H cắt lãi trước tháng đầu tiên là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) nên H chỉ đưa cho chị G số tiền mặt là 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng). Số tiền lãi chị G phải đóng theo kỳ là 9.000.000 đồng/tháng cho H.
- - Trong tháng 3/2022, chị G đã đóng tiền lãi 04 (bốn) lần cho H với tổng số tiền là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), còn lại số tiền lãi là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), chị G trả cho H bằng hình thức đưa trực tiếp tiền mặt.
- - Trong tháng 4/2022, chị G đã đóng tiền lãi 04 (bốn) lần cho H với tổng số tiền là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng). Cũng trong tháng 4/2022, chị G vay thêm của H số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vẫn với lãi suất là 10.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi đóng theo chu kỳ 30 ngày, trong đó H cắt lãi trước tháng đầu tiên là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nên H chỉ đưa cho chị G số tiền mặt là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Hai bên thống nhất cộng dồn số tiền gốc đã vay vào để dễ tính lãi. Như vậy, tổng số tiền gốc chị G đã vay của H tính đến tháng 4/2022 là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), trong đó số tiền lãi chị G phải đóng theo kỳ là 12.000.000 đồng/tháng cho H.
- - Trong tháng 5/2022, chị G đóng tiền lãi 06 (sáu) lần cho H với tổng số tiền là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Cũng trong tháng 5/2022, chị G vay thêm H số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) vẫn với lãi suất là 10.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi đóng theo chu kỳ 30 ngày, trong đó H cắt lãi trước tháng đầu tiên là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nên H chỉ đưa cho chị G số tiền mặt là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Hai bên thống nhất cộng dồn số tiền gốc đã vay vào để dễ tính lãi. Như vậy, tổng số tiền gốc chị G đã vay của H tính đến tháng 5/2022 là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng), trong đó số tiền lãi chị G phải đóng theo kỳ là 18.000.000 đồng/tháng cho H.
- - Trong tháng 6/2022, chị G đóng tiền lãi 13 (mười ba) lần cho H với tổng số tiền là 15.900.000 đồng (Mười lăm triệu chín trăm nghìn đồng), còn lại số tiền lãi là 2.100.000 đồng (Hai triệu một trăm nghìn đồng) thì chị G đã trả cho H bằng hình thức đưa trực tiếp tiền mặt.
- - Trong tháng 7/2022, chị G đóng tiền lãi 12 (mười hai) lần cho H với tổng số tiền là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
- - Khoảng đầu tháng 8/2022, chị G trả cho H số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) để một phần trả nợ cho bạn của chị G là chị Hoàng Thị T4, sinh năm 1994, ở TDP. Đại Tiến, P. N, TX. N đã vay của H. Trước đó, chị T4 vay số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) của H là do chị G giới thiệu, bảo lãnh nên khi chị T4 không trả được tiền nữa thì H yêu cầu chị G phải trả số tiền mà chị T4 đã vay. Số tiền 30 triệu đồng còn lại, chị G dùng để trả bớt một phần tiền vay gốc cho H. Như vậy, tổng số tiền gốc chị G còn vay của H tính đến tháng 8/2022 là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), trong đó số tiền lãi chị G phải đóng theo kỳ là 9.000.000 đồng/tháng cho H. Trong tháng 8/2022, chị G đóng tiền lãi 01 (một) lần cho H với số tiền là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), còn lại số tiền lãi là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), chị G xin H đóng bù vào tháng sau.
Vào khoảng đầu năm 2022, Trần Văn H thường xuyên đi đá bóng tại sân bóng ở xã H, TX. N, lúc này chị Cao Thị G đang làm công việc quản lý sân bóng trên nên hai người quen biết nhau. Thời điểm này, chị G có hỏi vay tiền của H thì H đồng ý. Hai bên có thỏa thuận cho chị G vay tiền dưới hình thức tín chấp, thống nhất tính lãi suất cho vay là 10.000 đồng/1 triệu/1 ngày, tiền lãi được đóng theo chu kỳ 30 ngày, có thể chia làm nhiều lần đóng trong một kỳ lãi, mỗi lần cho vay thì H đều cắt trước tiền lãi của tháng đầu tiên. Tiền gốc cho vay, chị G thường nhận tiền mặt từ H, quá trình trả lãi thì chị G thường trả lãi thông qua chuyển khoản ngân hàng, có ít lần thì trả trực tiếp bằng tiền mặt. Quá trình vay tiền và trả lãi của chị G cụ thể như sau:
3
- - Trong tháng 9/2022, chị G đóng tiền lãi 01 (một) lần cho H với tổng số tiền là 10 triệu đồng. Trong đó có 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền lãi của kỳ tháng 9/2022 và 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền lãi của kỳ tháng 8/2022. Như vậy, chị G còn nợ lại H số tiền lãi là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng).
- - Trong tháng 10/2022, chị G chuyển khoản ngân hàng để đóng tiền lãi 03 (ba) lần cho H với tổng số tiền là 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó có 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền lãi của kỳ tháng 10/2022 và 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi của kỳ tháng 8/2022, còn lại số tiền lãi là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thì chị G đóng cho H bằng hình thức đưa trực tiếp tiền mặt. Cũng trong tháng 10/2022, chị G đã trả cho H số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) tiền gốc bằng hình thức đưa tiền mặt. Như vậy, tổng số tiền gốc chị G còn vay của H tính đến tháng 10/2022 là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), trong đó số tiền lãi chị G phải đóng theo kỳ là 3.000.000 đồng/tháng cho H.
- - Trong tháng 11/2022, chị G đóng tiền lãi 02 (hai) lần cho H với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Cũng trong khoảng thời gian này, H thuê Lê Đình D thi thoảng thay H để liên hệ đến nhắc lãi, thu tiền nợ gốc, lãi của chị G giúp cho H. Tùy theo lượng công việc mà Trần Văn H thường cho D số tiền 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng để tiêu xài cá nhân. Thời điểm từ đầu năm 2023 đến khoảng tháng 8/2023 D đi nhắc lãi, thu tiền gốc, lãi của chị G nhiều nhất và nhận được số tiền 6.000.000 đồng từ Trần Văn H.
- - Trong tháng 12/2022, chị G đóng tiền lãi 01 (một) lần cho H với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
- - Trong tháng 01/2023, chị G đóng tiền lãi 03 (ba) lần cho H với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
- - Trong tháng 02/2023, chị G đóng tiền lãi 02 (hai) lần cho H với tổng số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
- - Trong tháng 3/2023, chị G vay thêm của H số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vẫn với lãi suất là 10.000 đồng/1 triệu/1 ngày, hai bên thỏa thuận tiền lãi đóng theo chu kỳ 30 ngày. Do H cắt lãi trước tháng đầu tiên với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nên H chỉ chuyển đưa cho chị G số tiền là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Hai bên thống nhất cộng dồn số tiền gốc đã vay vào để dễ tính lãi. Như vậy, tổng số tiền gốc chị G đã vay của H tính đến tháng 3/2023 là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), trong đó số tiền lãi chị G phải đóng theo kỳ là 6.000.000 đồng/tháng cho H. Do không có tiền đóng lãi nên chị G đã xin H nợ lại 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) tiền lãi vào tháng sau thì H đồng ý.
- - Trong tháng 4/2023, chị G đóng tiền lãi 04 (bốn) lần cho H với tổng số tiền là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó có 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền lãi của kỳ tháng 4/2023 và 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền lãi của kỳ tháng 3/2023. Do chưa có đủ tiền đóng lãi nên chị G đã xin H nợ lại 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền lãi vào tháng sau thì H đồng ý.
4
- - Trong tháng 5/2023, chị G đóng tiền lãi 05 (năm) lần cho H với tổng số tiền là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó có 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền lãi của kỳ tháng 5/2022 và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền lãi của kỳ tháng 3/2023. Cũng trong tháng 5/2023, chị G vay thêm của H số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) vẫn với lãi suất là 10.000 đồng/1 triệu/1 ngày, thỏa thuận tiền lãi đóng theo chu kỳ 30 ngày. Do H cắt lãi trước tháng đầu tiên với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nên H chỉ chuyển đưa cho chị G số tiền là 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Hai bên thống nhất cộng dồn số tiền gốc đã vay vào để dễ tính lãi. Như vậy, tổng số tiền gốc chị G đã vay của H tính đến tháng 5/2023 là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), trong đó số tiền lãi chị G phải đóng theo kỳ là 9.000.000 đồng/tháng cho H.
- - Trong tháng 6/2023, chị G đóng tiền lãi 02 (hai) lần cho H với tổng số tiền là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Do chưa có tiền đóng đủ lãi nên chị G đã xin H nợ lại 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) tiền lãi vào tháng sau thì H đồng ý.
- - Trong tháng 7/2023, chị G đóng tiền lãi 05 (năm) lần cho H với tổng số tiền là 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó có 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) tiền lãi của kỳ tháng 7/2023 và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền lãi của kỳ tháng 6/2023. Do chưa có tiền đóng đủ lãi nên chị G đã xin H nợ lại 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền lãi vào tháng sau thì H đồng ý.
- - Trong tháng 8/2023, chị G đóng tiền lãi 05 (năm) lần cho H với tổng số tiền là 8.500.000 đồng (Tám triệu năm trăm nghìn đồng). Do chưa có tiền đóng đủ lãi nên chị G đã xin H nợ lại 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) tiền lãi vào tháng sau thì H đồng ý. Như vậy, chị G còn nợ lại H số tiền lãi là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
- - Ngày 01/9/2023, chị G có chuyển trả thêm cho H 01 (một) lần tiền lãi với số tiền là 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để thanh toán hết số tiền lãi cần đóng của kỳ tháng 8/2023. Sau đó, do chị G gặp khó khăn về kinh tế dẫn đến không có tiền trả lãi nên chị G đã xin H không tính lãi đối với gói vay của chị G nữa thì H đồng ý, H yêu cầu chị G thanh toán sớm số tiền gốc còn vay. Thời gian sau đó, chị G đã trả được cho H số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tiền gốc bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng, chị G chuyển trả số tiền này đến tài khoản A số: 3522205674234 của Lê Đình D, sau đó D đã rút tiền mặt và chuyển lại cho H. Như vậy tính đến nay, chị G còn nợ lại của H số tiền gốc là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Tổng số tiền lãi mà chị G đã trả cho Trần Văn H trong gói vay nêu trên là 171.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi mốt triệu đồng), trong đó số tiền thu lợi bất chính là 161.630.137 đồng (Một trăm sáu mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi nghìn một trăm ba mươi bảy đồng).
5
- Đối với trường hợp của anh Lê Tuấn Q, sinh năm 1989, trú tại đường N, Tiểu khu B, P. H, TX. N:
- Gói vay 1: Khoảng ngày 01/4/2022, anh Q vay H số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) với mức lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày, hai bên thỏa thuận chu kỳ trả lãi là 10 ngày. Do H cắt lãi trước kỳ đầu tiên với số tiền lãi là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nên anh Q chỉ nhận từ H số tiền là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) bằng hình thức đưa tiền mặt. Đến ngày 11/4/2022, anh Q chuyển khoản ngân hàng cho H số tiền lãi của kỳ tiếp theo là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng). Sau đó đến ngày 22/4/2022, anh Q đã tất toán gói vay này bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng cho H số tiền gốc là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Tính đến thời điểm phát hiện tội phạm, gói vay này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính.
- Gói vay 2: Khoảng ngày 25/4/2022, anh Q tiếp tục vay của H số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) với mức lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày, hai bên thỏa thuận chu kỳ trả lãi là 10 ngày. Do H cắt lãi trước kỳ đầu tiên với số tiền lãi là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nên anh Q chỉ nhận từ H số tiền là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) bằng hình thức đưa tiền mặt. Đến ngày 04/5/2022, anh Q đã tất toán gói vay này bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng cho H số tiền gốc là 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng). Tính đến thời điểm phát hiện tội phạm, gói vay này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính.
- Gói vay 3: Khoảng ngày 22/5/2022, anh Q tiếp tục vay của H số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) với mức lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày, hai bên thỏa thuận chu kỳ trả lãi là 10 ngày. Do H cắt lãi trước kỳ đầu tiên với số tiền lãi là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nên anh Q chỉ nhận từ H số tiền là 54.000.000 đồng (Năm mươi tư triệu đồng) bằng hình thức đưa tiền mặt. Sau đó, mỗi tháng (tương ứng với 03 kỳ lãi 10 ngày) thì anh Q trả tiền lãi cho H với số tiền là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng). Đến ngày 31/10/2022, anh Q đã trả được số tiền gốc 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), còn nợ lại H số tiền gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Do gặp khó khăn về kinh tế nên anh Q xin H không tính lãi với số tiền gốc 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) còn lại thì H đồng ý. Trong khoảng thời gian trả lãi đối với gói vay này, anh Q chủ yếu trả tiền lãi bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng cho H, tổng số tiền lãi mà anh Q đã chuyển khoản cho H là 78.000.000 đồng (Bảy mươi tám triệu đồng), chỉ có 02 (hai) lần là đưa tiền mặt trực tiếp cho H với tổng số tiền lãi là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng). Như vậy trong gói vay này, tính đến ngày 31/10/2022, tổng số tiền lãi mà anh Q đã trả cho H là 96.000.000 đồng (Chín mươi sáu triệu đồng).
- Gói vay 4: Ngày 10/4/2023, anh Q có vay thêm của H số tiền gốc là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) vẫn với mức lãi suất là 10.000 đồng/triệu/ngày, hai bên thỏa thuận chu kỳ trả lãi là 30 ngày. Do H cắt lãi trước kỳ đầu tiên (kỳ tháng 4/2023) với số tiền lãi là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) nên anh Q chỉ nhận từ H số tiền là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng. Sau đó, do có tiền nên anh Q đã thanh toán trước tiền lãi của kỳ tháng 5 và tháng 6/2023, với tổng số tiền lãi là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), đều thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng. Tiếp đó, do điều kiện kinh tế khó khăn dẫn đến không còn khả năng trả lãi nên anh Q xin H không tính lãi đối với khoản vay nữa thì H đồng ý. H chỉ yêu cầu anh Q hoàn trả số tiền gốc còn vay là 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng), tuy nhiên đến nay thì anh Q vẫn chưa trả được tiền gốc cho H. Tổng số tiền lãi anh Q đã trả cho H trong gói vay này là 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
6
Tổng số tiền lãi mà anh Q đã trả cho H trong gói vay 3 và gói vay 4 nêu trên là 114.000.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu đồng), trong đó số tiền thu lợi bất chính là 107.753.425 đồng (Một trăm linh bảy triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn bốn trăm hai mươi lăm đồng).
Như vậy, tổng số tiền gốc Trần Văn H dùng để cho vay là 140.000.000 đồng; (cho chị Cao Thị G vay 60.000.000 đồng; anh Lê Tuấn Q vay 80.000.000 đồng). Số tiền lãi tối đa theo quy định trong Bộ luật dân sự đã thu là 16.616.438 đồng (mười sáu triệu sáu trăm mười sáu nghìn bốn trăm ba mươi tám đồng); tổng số tiền thu lợi bất chính đối với những khoản vay của chị Cao Thị G và anh Lê Tuấn Q số tiền 269.383.562 đồng (Hai trăm sáu mươi chín triệu ba trăm tám mươi ba nghìn năm trăm sáu mươi hai đồng), tổng số tiền cho vay mà các khách vay kể trên đang nợ lại của Trần Văn H là 58.000.000 đồng (năm mươi tám triệu đồng) trong đó chị Cao Thị G nợ Trần Văn H 18.000.000 đồng, anh Lê Tuấn Q nợ 40.000.000 đồng.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT đã ra thông báo truy tìm những người đã vay tiền với lãi suất cao của Trần Văn H để làm việc. Tuy nhiên, đến nay không xác định thêm được những người vay tiền khác. Ngoài những người vay tiền nêu trên, tài liệu điều tra đến nay chưa xác định được thêm những người vay khác.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng:
- - 01 (một) chiếc điện thoại Vivo màu đỏ đen có số Imei 1: 865635046215734 và số Imei 2: 865635046215726.
- - 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám có số Imei là 353224100916096.
Kết quả xử lý vật chứng; xử lý đồ vật, tài liệu:
- - Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại Vivo màu đỏ đen có số Imei 1: 865635046215734 và số Imei 2: 865635046215726 cho chủ sở hữu là Lê Đình D.
- - Trả lại 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 6S màu xám có số Imei là 353224100916096 cho chủ sở hữu là Trần Văn H.
Về phần trách nhiệm dân sự:
7
Bị cáo Trần Văn H đã chủ động trả lại số tiền thu lợi bất chính cho chị Cao Thị G. Còn anh Lê Tuấn Q không yêu cầu, đề nghị gì đối với số tiền thu lợi bất chính mà Trần Văn H đã thu.
Tình tiết khác liên quan đến vụ án:
- Đối với trường hợp gói vay của chị Hoàng Thị T4 có tổng số tiền lãi đã đóng cho Trần Văn H là 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng), gói vay đã kết thúc vào tháng 8/2022 nên tính đến thời điểm phát hiện tội phạm, gói vay này đã hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính nên không xem xét xử lý.
- Tại bản cáo trạng số 50/CT-VKS-P2 ngày 09/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Văn H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 BLHS; Lê Đình D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 BLHS.
* Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.
- Biện pháp tư pháp: Công nhận bị cáo H đã trả đầy đủ số tiền thu lợi bất chính cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Cao Thị G. Công nhận anh Lê Tuấn Q không yêu cầu bị cáo H trả lại tiền thu lợi bất chính.
- Án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- * Các bị cáo không tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Xử phạt Trần Văn H từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Phạt bổ sung bị cáo H 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Xử phạt Lê Đình D từ 12 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn tiền khấu trừ thu nhập và tiền phạt bổ sung cho bị cáo D.
Truy thu của bị cáo H số tiền còn lại là 16.616.348 để sung quỹ Nhà nước.
Truy thu của chị Cao Thị G số tiền 18.000.000 đồng; anh Lê Tuấn Q số tiền 40.000.000 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
8
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Thấy đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2022 đến tháng 9/2023, tại địa bàn TX. N, Trần Văn H đã thực hiện các hành vi cho vay lãi nặng dưới hình thức tín chấp (không cần tài sản cầm cố, thế chấp) với mức lãi suất 10.000 đồng/triệu/ngày, tương ứng với lãi suất 365%/năm, gấp 18.25 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015định. Trần Văn H đã thực hiện cho vay lãi nặng đối với 02 người vay là chị Cao Thị G và anh Lê Tuấn Q thu lợi bất chính số tiền 269.383.562 đồng.
- [3]. Tính chất vụ án: Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Bị cáo H đã cho nhiều người vay tiền với lãi suất rất cao; bị cáo D giúp bị cáo H đi thu tiền gốc, lãi cùng nhằm thu lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, xâm phạm lợi ích của công dân, gây mất trật tự trị an chung, cần phải xử lý nghiêm minh.
- [4]. Nhân thân, vai trò, trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
- [5]. Về biện pháp tư pháp:
- [6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có đơn xác nhận hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên, bị cáo H là người trực tiếp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay tiền, bị cáo D là người đi đòi nợ nên phạt tiền đối với bị cáo H, không phạt tiền bị cáo D là phù hợp. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo D.
- [7]. Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Đình D có hành vi giúp sức, hỗ trợ Trần Văn H để liên hệ, nhắc nợ và thu tiền gốc, lãi đối với chị Cao Thị G từ khoảng tháng 11/2022 đến khoảng tháng 01/2024, đã giúp H thu lợi bất chính số tiền là 55.712.329 đồng.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội của Trần Văn H có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 BLHS. Hành vi phạm tội của Lê Đình D có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 BLHS. Do đó Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo tại bản cáo trạng là đúng pháp luật.
Các bị cáo không câu kết, phân công vai trò cụ thể nên là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, bị cáo H là người khởi xướng, trực tiếp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay tiền, tiền là của bị cáo H, bị cáo H cho nhiều người vay; bị cáo D là đồng phạm giúp sức liên hệ, nhắc nợ và thu tiền gốc, lãi đối với 01 người vay cho bị cáo H. Nên xếp vai trò và hình phạt của bị cáo H cao hơn bị cáo D là phù hợp.
Bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên”; căn cứ điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
9
Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ TNHS chung là thành khẩn khai báo, đầu thú, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Bị cáo H có tình tiết giảm nhẹ TNHS riêng là bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền thu lợi bất chính cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS.
Các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, đều có nơi cư trú rõ ràng, có đơn xin xác nhận xin được cải tạo tại địa phương, hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên cho bị cáo H được hưởng án treo, bị cáo D cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 65; Điều 36 của Bộ luật Hình sự cũng đủ để các bị cáo thấy rõ được sự khoan hồng của pháp luật sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đối với khoản tiền gốc bị cáo H dùng để cho vay là 140.000.000 đồng; (cho chị Cao Thị G vay 60.000.000 đồng; anh Lê Tuấn Q vay 80.000.000 đồng). Trong đó chị Cao Thị G đã trả 42.000.000 đồng tiền gốc; anh Lê Tuấn Q đã trả 40.000.000 đồng tiền gốc cho bị cáo H. Do số tiền gốc là phương tiện phạm tội, nên truy thu của bị cáo H số tiền 82.000.000 đồng, truy thu của chị Cao Thị G số tiền 18.000.000 đồng; anh Lê Tuấn Q số tiền 40.000.000 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với tổng khoản tiền lãi tối đa theo Bộ luật dân sự đã thu là 16.616.348 đồng bị cáo H thu của chị Cao Thị G và anh Lê Tuấn Q; đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên truy thu của bị cáo H để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Tổng hai khoản truy thu của bị cáo H là 98.616.348 đồng. Bị cáo đã tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả là 82.000.000 đồng, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/02/2024 số tiền 20.000.000 đồng của đơn vị nhận tiền Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá và Biên lai thu tiền 62.000.000 đồng số 101 ngày 13/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá. Bị cáo còn phải nộp 16.616.348 để sung quỹ Nhà nước.
Đối với tổng khoản tiền lãi 269.383.562 đồng bị cáo H và bị cáo D thu lợi của chị Cao Thị G và anh Lê Tuấn Q. Bị cáo H đã trả đầy đủ cho chị G, chị không yêu cầu gì thêm (BL 184, 188), anh Q không yêu cầu bị cáo H trả lại số tiền thu lợi bất chính (BL 194, 196).
10
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn H và Lê Đình D phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- * Căn cứ vào Khoản 2, khoản 3 Điều 201; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2 Điều 65 BLHS.
- * Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 BLHS.
- Về biện pháp tư pháp:
- Án phí: Các bị cáo Trần Văn H và Lê Đình D; mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí HSST.
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt bị cáo Trần Văn H số tiền 30.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo Trần Văn H cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đình D 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hoá nhận được quyết định thi hành án. (Nhưng được trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 04/01/2024 đến ngày 12/01/2024 bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ).
- Áp dụng: Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136 của BLTTHS. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Công nhận bị cáo H đã trả lại đầy đủ số tiền thu lợi bất chính cho chị Cao Thị G. Anh Lê Tuấn Q không yêu cầu bị cáo H trả lại tiền thu lợi bất chính.
Truy thu của bị cáo Trần Văn H là 98.616.348 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 82.000.000 đồng, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 21/02/2024 số tiền 20.000.000 đồng đơn vị nhận tiền Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá và Biên lai thu tiền 62.000.000 đồng số 101 ngày 13/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá. Bị cáo H còn phải nộp 16.616.348 để sung quỹ Nhà nước.
Truy thu của chị Cao Thị G số tiền 18.000.000 đồng; anh Lê Tuấn Q số tiền 40.000.000 đồng để tịch thu sung quỹ Nhà nước.
11
Người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thủy |
12
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM ND PHIÊN TÒA Bùi Thế Huệ Nguyễn Trọng Thuý |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Lê Thị Thủy |
13
Bản án số 89/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 89/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
