Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v “Ly hôn và nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Lam
  • Ông Dương Khắc Hùng

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Đắc Quốc Tuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Minh Nguyệt – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 285/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐ-XX, ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2024/QĐ-HPT ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm T, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt
  2. Bị đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn V, xã V, huyện T, Bình Thuận; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 31/5/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm T trình bày: Ông và bà Bùi Thị H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2010, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T.

Vợ chồng từ khi lấy nhau đã sống không hạnh phúc và phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau, thường xuyên cãi vả, không tự giải quyết được, ông và bà H đã chính thức chấm dứt quan hệ vợ chồng và ly thân nhau hơn 06 năm nay. Ông nhận thấy tinh cảm vợ chồng không còn, vì vậy ông yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa ông và bà H.

Về con chung: 01 đứa, Phạm Gia H1, sinh ngày 23/5/2012. Ông yêu cầu nuôi dưỡng, giáo dục, ông không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có

Về nợ chung: Không có

Bị đơn bà Bùi Thị H vắng mặt nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong phát biểu ý kiến kiểm sát về việc tuân theo pháp luật:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

Việc tuân theo pháp luật của thư ký phiên tòa: Thư ký đã tuân thủ theo đúng quy định tại các Điều 237 và Điều 239 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn ông Phạm T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn bà Bùi Thị H không thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, ông Phạm T được ly hôn với bà Bùi Thị H

Về con chung: Giao cho ông Phạm T nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Gia H1, sinh ngày 23/5/2012. Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có

Về án phí: Ông Phạm T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: ông Phạm T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Bùi Thị H, do đó đây là vụ án “Tranh chấp về ly hôn” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Bùi Thị H có nơi cư trú tại thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Phạm T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Qua xác minh tại Ban cán sự thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì bà Bùi Thị H có hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử. Do bà H không có mặt tại nơi cư trú, thường xuyên vắng nhà. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú của bà Bùi Thị H theo đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật đã quy định nhưng bà Bùi Thị H vẫn không có mặt cũng như không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo thủ tục chung.

[3]. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Theo lời trình bày của nguyên đơn cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì ông Phạm T và bà Bùi Thị H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp.

Ông T cho rằng ông và bà H từ khi lấy nhau đã xảy ra nhiều mâu thuẫn không tự giải quyết. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ hơn 06 năm nay, không ai còn quan tâm đến ai. Quá trình giải quyết vụ án, do bà H không có mặt tại nơi cư trú thường xuyên vắng nhà Tòa án đã niêm yết công khai kết quả việc tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải theo quy định nhưng không thấy bà H có ký kiến gì, chứng tỏ bà H không có quan tâm gì đến tình cảm vợ chồng và nghĩa vụ đối với con cái và không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa ông T và bà H đã mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông bà đã ly thân một thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của các đương sự và để ổn định cuộc sống cho các bên, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm Trí .

[4]. Về con chung: Mặc dù hiện cháu Phạm Gia H1 đang ở bà ngoại nhưng ông T vẫn yêu cầu nuôi con chung, vì bà H đã bỏ đi, không lo được cho con cái nếu tiếp tục giao cho ngoại nuôi, thời gian lâu dài sẽ không đảm bảo cho đứa con sau này. Xét yêu cầu nuôi con của ông T là phù hợp bởi lẽ con chung thì phải giao cho một trong hai người, cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, bà H không nuôi được thì phải giao cho ông T nuôi.

[5]. Về tài sản chung và nợ chung: Không có

[6]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong là có căn cứ và phù hợp với quy định pháp luật nên ghi nhận.

[7]. Về án phí: căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án, buộc ông Phạm T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146 và khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
  2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Phạm T đối với bà Bùi Thị H. ông Phạm T được ly hôn với bà Bùi Thị H.
  3. Về con chung: Giao cho ông Phạm T nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Gia H1, sinh ngày 23/5/2012. Ông T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

    Ông T không được ngăn cản bà H trong việc thăm nom và chăm sóc, giáo dục con chung.

  4. Về án phí: Ông Phạm T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Ông T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0009622 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, ông T đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/9/2024). Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND (tỉnh+huyện);
  • - Tòa án tỉnh;
  • - Các đương sự;
  • - THA huyện;
  • - UBND (xã) thị trấn;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Lấy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger