TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-9-2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Bình
- Ông Lê Huỳnh Sinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 756/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Quốc Tâm T, sinh năm 1980.
- Địa chỉ: Lô F dãy N đường A, phường M, TP . - T (Có mặt).
- - Bị đơn: Ông Lê Đình K, sinh năm 1973.
- Địa chỉ: Thôn C, xã T, TP . - T, Ninh Thuận (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 16/10/2023 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà Nguyễn Quốc Tâm T trình bày:
Bà và ông Lê Đình K sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, vợ chồng có tổ chức cưới hỏi, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 01 tháng 4 năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2021 phát sinh mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hợp, ông K ngoại tình, chung sống với người phụ nữ khác. Từ đó, gia đình không còn hạnh phúc; mặc dù ông K có lỗi với vợ con, gia đình nhưng ông không xin lỗi bà. Do không chấp nhận việc ông K ngoại tình nên từ tháng 10/2022 bà và các con về nhà cha mẹ ruột bà sinh sống, hiện vợ chồng không còn sống chung, ly thân gần 02 năm, thời gian xa nhau vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Lê Đình K.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Lê Đình Lộc P, sinh ngày 13/6/2009 và Lê Đình Lộc P1, sinh ngày 04/7/2011. Hiện Lộc P đang du học tại Úc; Lộc Phúc đang sống cùng bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con Lộc Phúc; giao con Lộc Phát cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên không cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Hiện bà làm Ngân hàng thu nhập bình quân mỗi tháng 20.000.000 đồng đủ khả năng nuôi con; ông K kinh doanh thu nhập mỗi tháng bao nhiêu bà không rõ.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Lê Đình K đã được Tòa án tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.
- Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn xin ly hôn và xin nuôi con chung Lê Đình Lộc P1, sinh ngày 04/7/2011, giao con chung Lê Đình Lộc P, sinh ngày 13/6/2009 cho Bị đơn ông Lê Đình K trực tiếp nuôi dưỡng; Lộc Phúc có nguyện vọng ở với mẹ, Lộc P có ý kiến ở với cha. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn. Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn C, xã T, thành phố P - T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình tố tụng, Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho Bị đơn nhưng Bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và tài liệu, chứng cứ của Nguyên đơn đã nộp. Tại phiên tòa, Bị đơn tiếp tục vắng mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Điều này chứng tỏ Bị đơn đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Quốc Tâm T, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Quốc Tâm T và ông Lê Đình K được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Tại phiên tòa, bà Nguyễn Quốc Tâm T giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Lê Đình K. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, nhưng nguyên nhân chính là do ông K ngoại tình, từ đó gia đình không còn hạnh phúc, bà T cùng các con về nhà mẹ ruột bà sống, vợ chồng ly thân, không quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống trong một thời gian dài. Quá trình tố tụng, ông K không đến Tòa tham gia hòa giải, xét xử... Điều này cho thấy ông K có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Chứng tỏ tình cảm vợ chồng bà T ông K hiện không còn, không có tình nghĩa vợ chồng, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn bà Nguyễn Quốc T1 Thư là phù hợp với Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về giao người trực tiếp nuôi con chung:
Xét yêu cầu của Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi con Lê Đình Lộc P1, giao con Lê Đình Lộc P cho Bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng.
Quá trình chung sống, vợ chồng ông bà có 02 con chung tên Lê Đình Lộc P, sinh ngày 13/6/2009, Lê Đình Lộc P1, sinh ngày 04/7/2011. Xét thấy, từ ngày vợ chồng không còn sống chung, trẻ Lộc P1 sống ổn định với mẹ, sức khoẻ cũng như học tập đều đảm bảo, trẻ có nguyện vọng tiếp tục ở cùng mẹ; riêng trẻ L Phát hiện đang du học nước ngoài (nước Úc) và có nguyện vọng ở với cha. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con cũng như xem xét đến nguyện vọng của 02 trẻ. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu về giao người trực tiếp nuôi con chung của Nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với Khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình; giao con Lê Đình Lộc P1 cho bà Nguyễn Quốc T1 Thư trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Lê Đình Lộc P cho ông Lê Đình K trực tiếp nuôi dưỡng.
[2.4] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Quốc Tâm T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Quốc Tâm T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Quốc Tâm T được ly hôn ông Lê Đình K.
- Về giao người trực tiếp nuôi con:
Bà Nguyễn Quốc Tâm T được trực tiếp nuôi con chung Lê Đình Lộc P1, sinh ngày 04/7/2011.
Ông Lê Đình K được trực tiếp nuôi con chung Lê Đình Lộc P, sinh ngày 13/6/2009.
Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung; không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.
- Về án phí: Bà Nguyễn Quốc Tâm T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000583 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T. Bà Nguyễn Quốc Tâm T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt Nguyên đơn, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyên Vy |
Bản án số 89/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 89/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thư khải
