|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 81/2024/HNGĐ-ST Ngày 24-9-2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung". |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thực
- Ông Trần Đăng Tuấn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 170/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1988 (có mặt)
- Bị đơn: Anh Bùi Văn V, sinh năm 1984
Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Địa chỉ: TDP V, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị S trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn V kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 12-11-2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, hơn nữa anh V không tu chí làm ăn. Vào năm 2014, chị đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn anh V nhưng anh V hứa sẽ sửa đổi nên chị rút đơn để vợ chồng đoàn tụ. Tuy nhiên anh V không sửa đổi nên chị và anh V sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện H giải quyết cho chị được ly hôn anh V.
Về nuôi con chung: Chị và anh V có 02 con chung là Bùi Thị Anh Đ, sinh ngày 01-9-2010 và Bùi Thanh T, sinh ngày 05-12-2012, từ khi sinh con, các con chung do chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh V không chăm sóc, không cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Nếu ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, không yêu cầu anh V góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, hiện nay chị đang làm công nhân tại công ty có thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện để nuôi con.
Về chia tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản tự khai và đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt, bị đơn anh Bùi Văn V trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị S kết hôn cùng nhau do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào năm 2009. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, sau đó chị S có làm đơn khởi kiện ly hôn nhưng được Tòa án hòa giải nên vợ chồng lại về đoàn tụ. Tuy nhiên mâu thuẫn vợ chồng vẫn không khắc phục được nên chị S đưa con về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị S xin ly hôn, anh nhất trí.
Về nuôi con chung: Anh và chị S có có 02 con chung là Bùi Thị Anh Đ, sinh ngày 01-9-2010 và Bùi Thanh T, sinh ngày 05-12-2012, các con chung có nguyện vọng ở với bố hay mẹ thì do các con quyết định.
Về chia tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì công việc bận nên anh đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt tại các buổi làm việc, vắng mặt tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa anh và chị S.
Tại biên bản ghi lời khai của cháu Bùi Thị Anh Đ và cháu Bùi Thanh T trình bày: Các cháu là con chung của bố V và mẹ S, nếu bố mẹ các cháu ly hôn, các cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giám sát sự tuân theo pháp luật tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, chị S và anh V đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Chị S có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Anh V1 có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt, Tòa án đã căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự không tiến hành hòa giải và xét xử vắng mặt anh V1 sự theo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho chị Nguyễn Thị S được ly hôn anh Bùi Văn V; về nuôi con chung: Giao 02 con chung Bùi Thị Anh Đ, sinh ngày 01-9-2010 và Bùi Thanh T, sinh ngày 05-12-2012 cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện nuôi con hoàn toàn của chị S không yêu cầu anh V góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị; về chia tài sản chung: Không giải quyết; về án phí: Chị S phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và tố tụng: Chị Nguyễn Thị S khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Bùi Văn V, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Anh V xin vắng mặt nên TAND huyện Hưng Hà tiến hành xét xử vắng mặt anh V theo quy tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị S kết hôn với anh Bùi Văn V tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình vào ngày 12-11-2009, là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hòa thuận, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không bảo ban được nhau trong cuộc sống hàng ngày, chị S và anh V không khắc phục được đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Hội đồng xét xử thấy: Chị S và anh V mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh V, anh V nhất trí ly hôn vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị S, xử cho chị S được ly hôn anh V là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về nuôi con chung: Chị S và anh V có 02 con chung là Bùi Thị Anh Đ, sinh ngày 01-9-2010 và Bùi Thanh T, sinh ngày 05-12-2012, chị S có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung; anh V đề nghị Tòa án giải quyết theo nguyện vọng của các con chung; các con chung có nguyện vọng được ở cùng chị S. HĐXX thấy chị S hiện làm công ty, có thu nhập ổn định, anh V không có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung hơn nữa các con chung có nguyện vọng được ở cùng chị S. Để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho các con chung cần giao cả 02 con chung cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện nuôi con hoàn toàn của chị S, không yêu cầu anh V góp cấp dưỡng nuôi con cùng chị S là phù hợp với quy định của Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về chia tài sản: Chị S và anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không giải quyết.
[5] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà về hướng giải quyết vụ án phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[6] Về án phí: Chị S phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị S và anh Bùi Văn V.
- Về nuôi con chung: Xử giao cho chị Nguyễn Thị S trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung Bùi Thị Anh Đ, sinh ngày 01-9-2010 và Bùi Thanh T, sinh ngày 05-12-2012. Anh Bùi Văn V không phải góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị S. Anh V có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về chia tài sản chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị S đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0003814 ngày 01-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (chị S đã nộp đủ).
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Bùi Văn V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Bích Thủy |
Bản án số 81/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 81/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Trần Thị N và anh Bùi Văn K
