Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-PT

Ngày 08-8-2024

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trang.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Tùng Lâm,

Bà Lưu Thị Thủy Tiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trường An – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Uyên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2024/TLPT-HNGĐ ngày 19 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do Bản án sơ thẩm số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3411/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 6 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 10814/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1975. (có đơn xin vắng mặt)
  • Thường trú: 424/22/11 N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Địa chỉ: Thôn P, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1979. (có mặt)
  • Thường trú: 424/22/11 N, Phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Trần Văn Q – Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
  • - Người kháng cáo: Bị đơn – bà Nguyễn Thị Thanh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - ông Nguyễn Tuấn A trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Thanh T tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2000, có đăng ký kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 25/9/2000 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp). Trong quá trình chung sống với nhau do không hợp nhau về cách sống nên cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông thường xuyên bị gọi điện đòi nợ từ các khoản vay của bà T, do không có tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày nên thường xuyên cãi vã, ông đã cố gắng hàn gắn mối quan hệ nhưng không được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vì vậy hai bên đã sống ly thân năm 2017, từ tháng 9/2018 ông A sinh sống và làm việc tại xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Từ đó đến nay ông và bà T hoàn toàn cắt đứt liên lạc, không có sự qua lại, thăm hỏi nhau, thậm chí cũng không liên lạc với nhau qua điện thoại. Ông khẳng định 6 năm qua ông sinh sống ở đâu, làm công việc gì bà T cũng không biết. Mặc dù ông không đến thăm nom, chăm sóc các con nhưng thông qua gia đình bên nội, ông vẫn gián tiếp phụ cho các con tiền học phí và chi tiêu trong cuộc sống. Nay ông A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 17/3/2001, và Nguyễn Thanh Trúc Q1, sinh ngày 29/9/2003 – đã thành niên.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn - bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Quá trình chung sống bà và ông A không có mâu thuẫn nhưng đến năm 2018 bà phát hiện ông A có người thứ 3 và ông A đã bỏ nhà đi từ tháng 9/2018 cho đến nay, một mình bà phải chăm sóc nuôi dưỡng con, ông A không một lần liên lạc cũng không về nhà, không qua lại thăm nom, chăm sóc con. Nay ông A xin ly hôn bà T không đồng ý ly hôn vì bà không muốn xáo trộn cuộc sống của các con, đến cuối năm 2024 khi các con tốt nghiệp đại học ra trường bà sẽ xem xét lại ý kiến có đồng ý ly hôn với ông A hay không.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 17/3/2001, và Nguyễn Thanh Trúc Q1, sinh ngày 29/9/2003 – đã thành niên.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 6 quyết định:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị Thanh T. (Giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 25/9/2000 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).
  2. Về con chung: Đã thành niên
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên xác định không có.

Ngoài ra, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 20/3/2024, bà Nguyễn Thị Thanh T có đơn kháng cáo đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 6, kháng cáo xin đoàn tụ, không đồng ý ly hôn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn - ông Nguyễn Tuấn A có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn - bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày: Bà A không đoàn tụ, không đồng ý ly hôn, người bỏ nhà đi là ông A, người có lỗi là ông A chứ không phải bà.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T trình bày: Ông A và bà T ly thân, mỗi người sống mỗi nơi là do ông A thiếu nợ sợ người ta đến nhà đòi nên phải bỏ nhà đi. Căn cứ lý thân để giải quyết ly hôn là không đúng, ông A bỏ nhà đi là lỗi của ông A, bà T chấp nhận tha thứ để ông A quay trở về chung sống, khả năng hàn gắn là có thể, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận cho ly hôn, chấp nhận kháng cáo của bà T.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T, y án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh T còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung: Theo đơn kháng cáo, bà T kháng cáo về quan hệ hôn nhân, bà không đồng ý ly hôn, bà xin đoàn tụ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị Thanh T xác nhận trong quá trình chung sống giữa ông A và bà T có những mâu thuẫn nhất định, ông A đã đi về quê ở D, Khánh Hòa ở từ tháng 9/2018 đến nay. Ông A và bà T không có sự liên lạc, thông tin của nhau, ông A chưa một lần về thăm gia đình, còn bà T cũng không biết ông An sinh sống ở đâu và làm công việc gì, khi Tòa giải quyết ly hôn thì bà T mới biết ông A ở Khánh Hòa. Từ đó cho thấy trong suốt thời gian dài cả hai đã không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để vun đắp cuộc sống gia đình.

Bà T còn trình bày thêm do ông A có người thứ 3 nên mới bỏ nhà đi. Còn ông A xác định là không còn tình cảm gì với bà T nữa nên mới bỏ nhà đi, ông không bao giờ quay về chung sống với bà T nữa. Bà T xin đoàn tụ chỉ là nói có để gây khó khăn cho ông chứ nếu còn tình cảm thì trong 6 năm qua bà T đã có động thái liên lạc để cùng nhau chăm lo nuôi dạy các con khi còn nhỏ, hiện nay các con đã trưởng thành rồi thì lại lấy cớ các con chưa tốt nghiệp ra trường để không đồng ý ly hôn. Ông xác định không còn tình cảm với bà T nữa, ông cương quyết ly hôn, không chấp nhận bất kỳ giải pháp xin đoàn tụ nào của bà T.

Tại cấp phúc thẩm, bà T kháng cáo cho rằng giữa ông bà không có mâu thuẫn trầm trọng, ông A bỏ nhà đi nên ông là người có lỗi, bà T mong muốn đoàn tụ để hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, bà T lại không đưa ra giải pháp nào để có thể khắc phục mâu thuẫn vốn có giữa bà và ông A để ông A đồng ý quay trở về chung sống với bà. Từ năm 2018 đến nay bà T cũng không tìm hiểu, liên lạc để tìm kiếm ông A quay trở về chung sống với bà. Bà không đồng ý ly hôn vì muốn ông A trở về chung sống đi làm kiếm tiền nuôi các con đi học đến khi tốt nghiệp ra trường vì hiện nay các con còn đi học chưa đi làm. Lý do xin đoàn tụ của bà T là không chính đáng. Việc 2 người trở về chung sống với nhau phải xuất phát từ tình cảm thật sự, muốn duy trì và gắn bó với nhau chứ không vì một ly do nào khác.

Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông A và bà T đến nay đã không có sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông A là có căn cứ.

Từ những nhận định trên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn – bà Nguyễn Thị Thanh T cũng như đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà T.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng cáo của bà T là có cơ sở nên chấp nhận, bác toàn bộ kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo là bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 124/2024/HNGĐ-ST ngày 06 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 6:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị Thanh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 123 ngày 25/9/2000 do Ủy ban nhân dân Phường A1, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật).
  2. Về con chung: Có 2 con chung tên Nguyễn Tuấn K – sinh năm 2001, Nguyễn Thanh T1 quỳnh – sinh năm 2003 (đã thành niên).
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Hai bên xác định không có.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0038535 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Tuấn A đã nộp đủ án phí.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0009695 ngày 20/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 6;
  • - Chi cục THADS Quận 6;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/HNGĐ-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 89/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Tuấn A tranh chấp ly hôn với bà Nguyễn Thị Thanh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger