|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 89/2024/DSPT Ngày: 28/8/2024 “V/v Tranh chấp thừa kế tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Thế Bình.
Các thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn, bà Nguyễn Tuyết Mai.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh–Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong các ngày 26 và 28/8/2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 135/2024/TLPT-DS ngày 22/7/2024 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” do Bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2024/DSST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo theo Quyết định đưa xét xử phúc thẩm số: 118/2024/QĐXX-PT ngày 29 tháng 07 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức D, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Thôn Q, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: 1. Ông Nguyễn Đức N, sinh năm 1959.
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968.
Cùng địa chỉ: Thôn Q, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh đều có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964.Địa chỉ: Thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
2. Ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1965. Địa chỉ: Số A, đường T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (ông Quân Ủy Q1 cho bà T bà thôn xin vắng mặt).
3. Chị Nguyễn Minh C, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn Q, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh. Ủy quyền cho ông Nguyễn Đức N đại diện có mặt.
Do có đơn kháng cáo của ông N, bà H ngày 17/6/224.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày như sau:
Bố ông là Nguyễn Đức G, sinh năm 1930 (mất năm 1969), còn mẹ là Nguyễn Thị K, sinh năm 1930 (mất năm 2016). Bố mẹ sinh được 04 người con là Nguyễn Đức N, sinh năm 1959; Nguyễn Đức D, sinh năm 1962; Nguyễn Thị T, sinh năm 1964 và Nguyễn Đức Q, sinh năm 1965 ngoài ra không có con nuôi và con riêng nào khác. Năm 2007 khi dồn điền, đổi thửa thì hộ gia đình ông N (là anh trai ông) có 3,5 định xuất gồm có: Cụ Nguyễn Thị K, ông Nguyễn Đức N, bà Nguyễn Thị H và cháu Nguyễn Minh C, được địa phương chia đất nông nghiệp tại các xứ đồng, cụ thể như sau: Xứ đồng Thao Thông diện tích 120m², xứ đồng Cây Dướng diện tích 493m², xứ đồng Lang C1 là 624m², xứ đồng Lỗ L là 466m², xứ đồng G1 là 105m², xứ đồng Chùa N3 là 694m², tổng diện tích là 2.502m². Phần diện tích đất của cụ K được chia là 715m². Ông yêu cầu chia thừa kế phần đất ruộng của mẹ ông là cụ Nguyễn Thị K theo quy định của pháp luật cho 04 người con, mỗi người con được 178,86m², bằng tiền là 178,86m² nhân với giá bồi thường của nhà nước về đất hiện nay là 439.000 đồng/m², tương ứng với số tiền là: 78.458.000 đồng/người.
Bị đơn là ông Nguyễn Đức N trình bày: Tại thời điểm năm 1992, các em ông đi thoát ly hết, đều công chức Nhà nước không có hộ khẩu ở nhà tại thôn Q lúc bấy giờ. Ông Nguyễn Đức Q là bác sĩ, bà Nguyễn Thị T là giáo viên, ông Nguyễn Đức D là Công an nhân dân đều là công chức, hiện đã có lương hưu, đủ điều kiện nuôi mẹ nhưng không đóng góp công sức nuôi mẹ già. Do năm 1988, khi chia đất 10% gia đình ông có 04 khẩu, bao gồm: ông là Nguyễn Đức N, mẹ ông là cụ Nguyễn Thị K, bố ông là cụ Nguyễn Đức G, bác ông là cụ Nguyễn Đức S. Do gia đình ông sử dụng phần đất ở quá quy định nên khi chia đất 10% đã trừ vào phần đất canh tác của hộ gia đình, do vậy năm 1992 khi chia lại ruộng đất thì phần định suất của ông và mẹ ông bị trừ 10% này vào đất canh tác được chia năm 1988. Tại thời điểm 1992, hộ gia đình nhà ông có 04 khẩu gồm có: Ông là Nguyễn Đức N, mẹ ông là cụ Nguyễn Thị K, vợ ông là bà Nguyễn Thị H, con gái ông là Nguyễn Minh C. Năm 1992 ở địa phương chia mỗi định suất là 1 sào 12 thước, tương ứng 648m². Phần đất ruộng của mẹ ông và ông được trừ đi vào phần đất 10%, tương ứng 80m²/suất. Nên phần đất mẹ ông và ông được chia là 1136m², phần của vợ ông và con gái ông vẫn được chia nguyên mỗi định suất là 648m². Diện tích ông khai do với diện tích thực tế có phần chênh nhau, do việc phân chia đất đã diễn ra từ quá lâu nên ông không nhớ rõ con số, số liệu cụ thể. Đất tăng sản năm 1992 đó là phần đất được Hợp tác xã Q4 phân cho gia
đình, có thể thu hồi bất cứ lúc nào. Chủ trương Hợp tác xã thời đó là nhữngngười tại thời điểm đó không có hộ khẩu tại địa phương thì không được chia, khẩu mới sinh ra cũng không được chia thêm, khẩu đã mất cũng không rút ra chia lại. Chỉ chia cho những khẩu hiện đang sinh sống trực tiếp tại địa phương.
Năm 2007, địa phương thực hiện dồn điền đổi thửa nên nhà ông được phân chia ở 06ử đồng"xứ đồng như sau: Xứ đồng Cây Giếng (C): 493m², xứ đồng Lang Chung: 624 m², Xứ đồng Lỗ Lội: 466m², xứ đồng Giếng: 105m2, xứ đồng Chùa N3: 694m², xứ đồng Thao Thông: 120m², tổng: 2502m². Phần đất xứ đồng tại L và L, ông cho dân làng mượn theo năm để canh tác, không phải thuê đất không ký hợp đồng thuê đất hàng năm. Trả 300.000 đồng/năm, thậm chí có nơi họ không có điều kiện trả thì ông và gia đình cũng không đòi. Mới cho mượn bắt đầu từ năm 2023. Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D, cũng như việc chia lại phần đất cho các em của ông phần chia theo ruộng canh tác mà ông D đề nghị đối trừ vào tiền thi hành án của Bản án số: 11/2020/DSST ngày 12/05/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Bản án số: 97/2022/DSPT ngày 27/04/2022 của TAND cấp cao tại Hà Nội. Do các ông, bà không được chia ruộng và chủ trương của Nhà nước là không thu hồi và không chia lại. Toàn bộ phần diện tích canh tác hiện nay thuộc phần quản lý của gia đình ông. Không thể tiến hành phân chia thừa kế đối với phần đất ruộng đó được.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà kết hôn với ông Nguyễn Đức N năm 1989. Năm 1992, gia đình bà được chia ruộng với tổng diện tích là 2.502m², cho 04 nhân khẩu gồm có mẹ chồng bà là cụ Nguyễn Thị K, chồng bà là Nguyễn Đức N, bà là Nguyễn Thị H và con gái bà là Nguyễn Minh C. Do thời điểm năm 1988, khi chia đất 10%, do gia đình bà lúc đó sử dụng diện tích đất vườn vượt quá quy định nên phải trừ phần đất ruộng vào đất vườn. Do đó, đến năm 1992, khi chia lại ruộng thì phần đất ruộng của chồng và mẹ chồng bà bị trừ một phần vào đất vườn chia năm 1988. Theo quy định tại địa phương, nếu một khẩu được chia đầy đủ sẽ là 715m², nhưng gia đình nhà bà chỉ được chia có 2.502m², trong khi chia đủ gia đình bà sẽ phải được là 2.860m², như vậy gia đình bà bị thiếu hơn 300m², chính là phần diện tích bị trừ vào đất vườn của mẹ chồng và chồng bà.
Về việc ông D yêu cầu chia thừa kế đất ruộng, bà cũng nhất chí nhưng đồng ý trả cho ông D phần đất ruộng thừa kế theo quy định ông D được hưởng, không chấp nhận việc đối trừ bằng tiền. Tuy nhiên, bà đề nghị toà án xác minh cụ thể phần đất ruộng của mẹ chồng bà được chia năm 1992 và cũng đề nghị tính cho vợ chồng bà thêm một phần công sức vì vợ chồng bà là người nuôi
dưỡng và chăm sóc cụ Nguyễn Thị K, đặc biệt là 5 năm cuối đời, mẹ chồng bà bị tai biến, nằm liệt giường chỉ có vợ chồng bà là người chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Đức Q trình bày: Đề nghị không tham gia tố tụng và từ chối nhận di sản thừa kế là đất ruộng của cụ Nguyễn Thị Kim .
Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Nguyễn Đức T1-Trưởng thôn Quế Ổ, ông T1 cho biết: Năm 1988, hộ gia đình ông Nguyễn Đức N được chia một phần đất ruộng rau. Năm 1992, khi chia ruộng canh tác, thì hộ gia đình ông N có 04 khẩu là ông Nguyễn Đức N, cụ Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị H và chị Nguyễn Minh C. Theo quy định thì mỗi khẩu tại địa phương được chia là 1 sào 12 thước tương đương là 648m². Nếu được phân chia đất ruộng rau thì sẽ trừ vào đất canh tác. Năm 2007, khi dồn điền đổi thửa thì diện tích đất canh tác vẫn giữ nguyên. Hiện nay, nhà ông N được sử dụng đất tại các xứ đồng như sau: Sau T2 (Thao Thông) 120m², C (C) 493m², Lang Chung624m², Lô L (Đ) 466m², Đồng Giếng 105m², Chùa Ngoài 694m².
Toà án đã tiến hành thẩm định như sau:
- Thửa đất ruộng xứ đồng Giếng diện tích 105m²: Phía Đông Nam giáp đường nhựa, phía Đông Bắc giáp ruộng nhà bà Nguyễn Thị L1 (T), phía Tây Nam giáp ruộng nhà bà Nguyễn Thị T3 (B), phía Tây Bắc giáp nhà ruộng nhà ông Nguyễn Đức T4 (Nhiệm).
- Thửa đất xứ đồng Thao Thông diện tích 120m²: Không có bờ ruộng; phía Bắc giáp mương, phía Nam giáp khu dân cư (nhà ông Nguyễn Đình Q2), phía Tây giáp ruộng nhà bà Nguyễn Thị T5 (Q3), phía Đông giáp ruộng nhà ông Nguyễn Đắc V (T4).
- Thửa đất xứ đồng Lang Chung diện tích 624m²: Không xác định được bờ ruộng; phía Nam giáp đường giao thông (bờ đất), phía Đông giáp ruộng nhà ông Nguyễn N1"Hoặc (L2), phía Bắc giáp ruộng 02 nhà là ông Nguyễn Văn T6 (Duệ) và ông Nguyễn Đắc T7 (Sáu), phía Tây giáp ruộng nhà ông Nguyễn Văn V1 (Trục).
- Thửa đất xứ đồng Cây Giếng (C) diện tích 493m²: Không xác định được bờ vùng xung quanh; phía Bắc giáp đường đất, phía Nam giáp ruộng nhà ông Nguyễn Văn T8 (L3), phía Đông giáp ruộng nhà ông Nguyễn Đắc S1 (Đàn), phía Tây giáp ruộng nhà ông Nguyễn Đức T4 (Nhiệm).
- Thửa đất xứ đồng Chùa N3 diện tích 694m²: Không xác định được bờ xung quanh; phía Tây giáp ruộng nhà ông Nguyễn Văn V1 (Trục), phía Nam giáp địa phận của thôn M, phía Bắc giáp một góc ruộng nhà bà Phan Thị K1
(Bộ) và một góc giáp thùng (ao) sen Chùa N3, phía Đông giáp ruộng nhà ông Nguyễn Như X.
- Thửa đất xứ đồng Cời (Lô Lội) diện tích 466m²: Không xác định được bờ ruộng; Phía Đông giáp đường giao thông (bờ đất), phía Tây giáp đường giao thông (bờ đất), phía Nam giáp ruộng nhà ông Nguyễn Đức S2 (Đàn), phía Bắc giáp nhà ông Nguyễn Văn V1 (Trục).
Diện tích, vị trí các thửa đất được xác định theo việc dồn điền, đổi thửa năm 2007 – 2008.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2024/DSST ngày 05/6/2024 của TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Áp dụng Điều 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dânsự; Điều 129, 130, 131 Luật đất đai năm 2013; Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức D.
- Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị K là 625,5m² đất nông nghiệp (đất ruộng) tại các xứ đồng thuộc thôn Q, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh gồm có: Xứ đồng Lang Chung diện tích 624m²; xứ đồng Cời diện tích 466m²; xứ đồng Cây Giếngtích 493m²; xứ đồng Chùa N3 là 694m²; xứ đồng Thao Thông diện tích 120m²; Xứ đồng Giếng diện tích 105m².
- Xác định hàng thừa kế theo pháp luật để phân chia đất ruộng của cụ Nguyễn Thị K là ông Nguyễn Đức N và ông Nguyễn Đức D. Phần chia cho ông Nguyễn Đức D và ông Nguyễn Đức N mỗi ông được quản lý và sử dụng 312,75m² (làm tròn số là 312m²) đất ruộng.
- Giao cho ông Nguyễn Đức D thửa đất ruộng có diện tích là 312m² tại xứ đồng Lang Chung có tứ cận như sau: phía Nam đường giao thông (bờ đất), phía Đông ruộng nhà ông Nguyễn H1 (L2), phía Bắc ruộng nhà ông Nguyễn Văn T6 (H2) và ông Nguyễn Đắc T7 (Sáu), phía Tây giáp ruộng chia cho ông Nguyễn Đức N.
- Giao cho ông Nguyễn Đức N thửa đất ruộng có diện tích là 312m² tạixứ đồng Lang Chung có tứ cận như sau: phía Nam đường giao thông (bờ đất), phía Đông ruộng chia cho ông Nguyễn Đức D, phía Bắc ruộng nhà ông Nguyễn Văn T6 (H2) và ông Nguyễn Đắc T7 (Sáu), phía Tây giáp ruộng nhà ông Nguyễn Văn V1 (Trục).
Ngoài ra án sơ thẩm còn giải quyết tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi án sơ thẩm xử xong ông D, ông Q2, bà T chấp nhận phần quyết của bản án sơ thẩm không có ý kiến thắc mắc gì. Ngày 17/6/2024 bị đơn là ông
Nguyễn Đức N và bà Nguyên Thị H3 có đơn kháng cáo đề nghị tòa cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bộ Bản án sơ thẩm số: 31/2024/DSST ngày 05/6/2024 của TAND thị xã Quế Võ với các căn cứ sau:
Thứ nhất, năm 1992 gia đình ông, bà gồm 4 nhân khẩu là vợ chồng ông bà, cụ K và con gáilà chị C được Nhà nước giao 2502m² đất canh tác nông nghiệp trồng lúa, năm 2008 thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, dồn thành 06 thửa đất với 05 hạng đất khác nhau. Song khi tòa án chia di sản đối với phần diện tích đất do cụ K để lại cho các thừa kế là ông D và ông N tòa lại xác định thửa đất có diện tích 624m² xứ đồng Lang Chung là di sản do cụ K để lại và chia thừa kế trong khi khi thửa đất này đã có kế hoạch làm dự án trạm biến áp và sẽ được đền bù theo quy định là không phù hợp, không công bằng và không đúng pháp luật. Theo quan điểm của ông N, bà H3 thì khi chia thừa kế tòa án phải xác định phần di sản là đất canh tác nông nghiệp do cụ K để lại nằm đều trong 6 thửa đất của hộ gia đình, cụ thể tại mỗi thửa cụ K có quyền sử dụng 1/4 diện tích của mỗi thửa.
Thứ hai: Khi giải quyết phân chia thừa kế di sản của cụ K để lại tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến công lao, chăm sóc nuôi dưỡng người để lại di sản và công lao duy trì quản lý di sản cho vợ chồng ông bà và không coi bà H3 có quyền là đồng sở hữu trong khối di sản do cụ K để lại là không hợp tình, hợp lý và không đúng với quy định tại Nghị quyết số: 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao "Hướng dẫn pháp lệnh chia thừa kế".
Tại Phiên tòa phúc thẩm ông D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị tòa án bác đơn kháng cáo của các bị đơn, giữ nguyên bản án sở thẩm.
Tại phiên tòa bị đơn là ông N và bà H3 thừa nhận khi còn sống cụ K2 nhà nước giao theo hạn mức 625m²canh tác nông nghiệp trồng lúa, diện tích đất cụ kim được giao nằm trong 6 thửa đất nằm tại các xứ đồng Thông(Thao Thông) 120m², Cây GiếngDướng)2, Lang C, Lô LộiCời) 466m², Đồng G, Chùa N4 với tổng diện tích 2502m² đứng tên hộ ông Nguyễn Đức N trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện đang do ông, bà quản lý, sử dụng, tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ K để lại là 625m² đất và chia thừa kế là đúng ông bà không có ý kiến thắc mắc gì. Song theo ông N, bà H3 lý do ông bà kháng cáo đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm bởi tòa án cấp sơ thẩm khi chia thừa kế xác định thửa đất tại xứ đồng Lang Chung là di sản do cụ K để lại và chia cho ông D 1/2 diện tích thửa đất tương ứng 312m² là không công bằng và hợp lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng sở hữu và quá trình khai thác sử dụng đất của những người được giao quyền sử dụng đất, làm cho việc sử dụng đất manh mún, không phát huy được hiệu quả của các bên trong quá trình sử
dụng đất đai. Ông N, bà H3 đề nghị tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao cho ông D được sử dụng toàn bộ diện thửa đất tại xứ đồng Lô Lội(Đồng Cời) có diện tích 466m² và không yêu cầu ông D phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ tài chính gì.
Trong phần tranh luận ông D không nhất trí nhận thửa đất tại xứ đồng Lôi Lội, đề nghị tòa án không chấp nhận kháng cáo của bị đơn với căn cứ tòa án cấp sơ thẩm chia và giao cho ông sử dụng 312m² đất tại xứ đồng Lang Chung là hợp tình, hợp lý.
Cũng tại phiên tòa đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh sau khi đánh giá việc chấp hành và thực hiện pháp luật tố tụng của thẩm phán các thành viên hội động xét xử, thư ký phiên tòa và việc chấp hành các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các đương sựlà nghiêm túc, đúng pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 của chấp nhận 01 phần kháng cáo của N và bà H3 sửa Bản án sơ thẩm số: 31/2024/DSST, ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh theo hướng giao và chia cho ông Nguyễn Đức D được sử dụng toàn bộ thửa đất tại xứ đồng Côi Lội có diện tích 466m², ghi nhận ý chí tự nguyện của ông N bà H3 về việc không yêu cầu ông D phải hoàn trả số tiền chênh lệch do được giao và nhận thừa đất với diện tích được nhận thừa là 466m²– 312,75m²= 153,25m².
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Xét nội dung đơn và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy, ông Nguyễn Đức D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh chia di sản thừa kế là quyền quyền sử dụng đất canh tác nông nghiệp được Nhà nước giao theo hạn mức của cụ Nguyễn Thị K, sinh năm 1930 (chết năm 2016) nằm tại 06 thửa đất với tổng diện tích là 2052m² có địa chỉ tại: Xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh nay là thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện, căn cứ vào thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án theo loại việc, theo cấp tòa án và theo lãnh thổ thấy, Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là "Chia di sản thừa kế" và thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 623 của BLDS và các Điều 26, 35, 39 của BLTTDS.
Xét đơn kháng cáo của ông N và bà H3 thấy: Đơn kháng cáo của ông N, bà H3 là hợp lệ và được làm trong thời hạn luật định lên được chấp nhận để xem xét theo thủ thẩm phúc thẩm.
[2] Xét quyết định của bản án sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của ông N và bà H3 thấy: Quá trình tố tụng các đương sự đều thừa nhận cụ K sinh năm 1930 chết năm 2016, trước khi chết cụ K không lập di chúc định đoạt tài sản cho những người thừa kế. Các đương sự đều thống nhất thừa nhận, khi cụ K còn sống cụ K được nhà nước giao 625m² đất canh tác nông nghiệp, phần diện tích đất canh tác nông nghiệp cụ K được giao nằm tại 6 thửa đất ở các Xứ đồng C (C) diện tích 493m², xứ đồng Lang Chung diện tích 624m², xứ đồngLô Lộitích 466m², xứGiếng diện tích 105m²; xứ đồng Mả CũNgoài diện tích 694m², xứ đồngThông) có diện tích 120m², tổng diện tích là 2.502m² hiện đang do gia đình ông Nguyễn Đức N quản lý sử dụng. Xét đây là các tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS nên tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản do cụ K để lại là 625m² đất canh tác nông nghiệp và xác định người có quyền hưởng di sản của cụ K để lại là ông N, ông D, bà T, ông Q2 là đúng. Song quá trình tố tụng ông Q2 và bà T đều có ý kiến từ chối nhận di sản thừa kế, nên tòa án cấp sơ thẩm xác định và chia thừa kế di sản của cụ K để lại cho ông Nguyễn Đức D và ông Nguyễn Đức N là đúng quy định của pháp luật.
Xét các các căn cứ của ông N và bà H3 đưa ra để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm thấy:
- Ông N bà H3 cho rằng, khi xét xử tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định di sản của cụ K để lại là 624m² đất nằm tại xứ đồng Lang Chung và chia thửa đất cho ông N và ông D là không hợp lý. Theo ông N, bà H3 khi cụ K còn sống, cụ K sống chung và nằm cùng nhân khẩu với gia đình, tổng số nhân khẩu trong gia đình tại thời điểm được Nhà nước giao đất canh tác gồm 4 khẩu bao gồm cả cụ K được giao 2502m² đất nông nghiệp nằm tại 6 thửa đất ở các xứ đồng khác nhau, hạng đất khác nhau, theo quy định thì tổng diện tích 2502m² đất nông nghiệp được giao là tài sản chung theo phần của 4 nhân khẩu. Do vậy di sản do cụ K để lại sẽ phân bổ đều trên 6 thửa đất và cụ K có quyền sử dụng 1/4 diện tích đất của mỗi thửa, song tòa án cấp sơ thẩm lại không xác định 1/4 diện tích đất của mỗi thửa là di sản do cụ K để lại để chia thừa kế mà lại xác định thửa đất tại xứ đồng Lang Chung với diện tích 624m² là di sản của cụ K để lại, trong khi thửa đất này đã có đề án của Tổng công ty Đ sẽ thu hồi làm trạm biến áp là không công bằng. Nhận thấy năm 1992 thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về việc giao đất nông nghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp và chính sách dồn điền, đổi thửa khắc phục tình trạng sử dụng đất manh mún, phân tán, tăng cường hiệu quả khai thác và sử dụng đất. Theo hạn mức đất nông nghiệp được giao, cụ K được giao 625m² đất, phần diện tích đất cụ K được Nhà nước giao nằm trong tổng
diện tích 2502m² đất giao cho hộ gia đình ông Nguyễn Đức N tại xứ đồng Thao Thông diện tích 120m², xứ đồng Cây Dướng diện tích 493m², xứ đồng Lang Chung 624m², xứ đồng Lỗ L là 466m², xứ đồng G1 là 105m², xứ đồng Chùa Ngoài 694m². Khi giao đất, nhà nước không xác định phần diện tích cụ thể cụ K là bao nhiêu, được nằm ở đâu, thuộc thửa đất nào mà giao chung cho hộ gia đình ông Nguyễn Đức N. Nếu xác định phần di sản do cụ K để lại theo quan điểm của ông N, bà H3 phân bổ đều trên cả 6 thửa đất để đem chia thừa kế là không hợp lý, ngược lại nếu xác định di sản thừa kế của cụ K để lại nằm tại xứ đồng Lang Chung do cụ K để lại và chia thửa kế cho những người nhận thừa kế như quyết định của bản án sơ thẩm thấy cũng chưa thực sự công bằng. Bởi hạn mức đất nông nghiệp của cụ K được giao nằm trong 6 thửa đất với tổng diện tích 2502m², 06 thửa đất này không nằm tập trung tại một xứ đồng mà nằm độc lập tại các xứ đồng khác nhau, mỗi xứ đồng cóvị trí địa lý, chất lượng đất, điều kiện thổ nhưỡng và hạng đất khác nhau, nên tòa án sơ thẩm lấy thửa đất tại xứ đồng Lang Chung để chia cho ông D, ông N mỗi người được sử dụng 1/2 diện tích của thửa đất đã tạo ra tình trạng sử dụng manh mún đất đai, không phát huy được tiềm năng, thế mạnh của đất, không khuyến khích được người sử dụng đất mạnh dạn đầu tư vào đất, đi ngược với Quyết định số: 162/QĐ- UBND ngày 28/10/2009 của UBND tỉnh B "Quy định về việc phê duyệt đề án dồn điền, đổi thửa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2009- 2011". Lẽ ra trong vụ án này, tòa án cấp sơ thẩm khi chia phần di sản được nhận thừa kế cho ông D cần xem xét chia và giao cho ông D một thửa đất độc lập, nguyện vẹn, nếu diện tích thửa đất chia cho ông D có diện tích lớn hơn với kỷ phần thừa kế được nhận thì buộc bên nhận đất phải trích trả cho các đồng sở hữu giá trị vượt quá, ngược lại diện tích thửa đất độc lập giao và chia cho ông D nhỏ hơn với phần diện tích được chia thì buộc ông N phải trích trả diện tích thiếu bằng tiền mới phù hợp. Tại phiên tòa ông N, bà H3 nhất trí và tự nguyện chia và giao cho ông D toàn bộ 466m² đất nằm tại xứ đồng Cời- Lô L và không yêu cầu ông D phải trích trả giá trị phần diện tích đất vượt quá được chia theo phần được nhận thừa kế là 153,25m² thấy là tự nguyện, hợp lý và hợp pháp cần chấp nhận. Do ông N tự nguyện giao cho ông D toàn bộ diện tích 466m² đất tại xứ đồng đồng Cời- Lô Lội do vậy kỷ phần thừa kế còn lại ông N được nhận là: 312,75m²- 153,25m²= 159,50m² và diện tích này nằm tại 05 xứ đồng còn lại có tổng diện tích 2502m²– 466m²=2036m².
- Đối với ý kiến của vợ chồng ông N, bà H3 kháng cáo tòa án cấp sơ thẩm khi xem xét chia thừa kế không xem xét đến công lao, chăm sóc nuôi dưỡng người để lại di sản và công lao duy trì quản lý di sản cho ông bà và không coi bà
H3 có quyền là đồng sở hữu trong khối di sản do cụ K để lại là không hợp tình, hợp lý và không đúng với quy định tại Nghị quyết số: 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao " Hướng dẫn pháp lệnh chia thừa kế", thì thấy: Ông N, bà H3 viện dẫn Nghị quyết số: 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao "Hướng dẫn pháp lệnh chia thừa kế" để xác định bà H3 có quyền đồng sở hữu đối với khối di sản do cụ K để lại là không phù hợp, văn bản này không còn có giá trị thực hiện và đã được thay thế bằng chế các chế định của BLDS 1995, 2005 và 2015. Về công lao chăm sóc, phụng dưỡng người để lại di sản là cụ K thì trước đây khi chia di sản là quyền sử dụng đất ở do cụ K để lại cho các thừa kế tại Bản án số: 11/2020/DSST ngày 12/5/2020 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Bản án số: 97/2022/DSPT ngày 27/4/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án án nhân dân tỉnh B và Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xem xét đến công sức chăm sóc cụ K và chia cho vợ chồng ông N được hưởng 01 xuất kỷ phần thừa kế. Đối với công lao suy trì quản lý phần di sản do cụ K để lại thì di sản do cụ K để lại là đất canh tác nông nghiệp nằm trong tổng diện tích 2502m² đất nông nghiệp được Nhà nước giao đứng tên hộ ông Nguyễn Văn N2, năm 2016 cụ K chết, hạn mức đất của cụ K được giao do gia đình ông N2 trực tiếp canh tác, trồng trọt và được hưởng các hoa lợi, lợi tức, quá trình khai thác sử dụng vợ chồng và gia đình không phải nộp thuế do nhà nước có chính sách miễn thuế đất nông nghiệp và cũng không phải bỏ ra bất cứ chi phí gìn giữ, bảo quản hay làm tăng giá trị của đất nên yêu cầu kháng cáo của vợ chồng ông N2 đề nghị tòa án trích chia công sức chăm sóc người để lại di sản và trích trả công sức quản lý, duy trì di sản là không có căn cứ.
Từ những phân tích và nhận định trên thấy cần chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông N2, bà H3 sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2024/DSST ngày 05/6/2024 của TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của ông N2, bà H3 về việc chia và giao phần di sản do cụ K để lại cho ông Nguyễn Đức D được quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất canh tác nông nghiệp tại xứ đồng Cời – Lô Lội diện tích 466m² có địa chỉ tại C, TX Q, tỉnh Bắc Ninh.
-Về án phí: Do kháng cáo của ông N2 và bà H3 được chấp nhận, theo quy định ông N2, bà H3 không phải chịu án phí DSPT.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Đức N và bà Nguyễn Thị H, sửa
Bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2024/DSST ngày 05/6/2024 của TAND thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Áp dụng Điều 623, 649, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự; Điều 129, 130, 131 Luật đất đai năm 2013; Điều 26, 35, 39, 147, 157, 158, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đức D.
- Xác nhận di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị K là 625,5m² đất nông nghiệp (đất ruông trồng lúa) nằm tại các xứ đồng thuộc thôn Q, xã C, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh gồm có: Xứ đồng Lang Chung diện tích 624m²; xứ đồng CờiLô Lội diện tích 466m², xứ đồng Cây Giếngtích 493m², xứ đồng Chùa N3 là 694m², xứ đồng Thao Thông diện tích 120m², xứ đồng Giếng diện tích 105m².
- Xác định hàng thừa kế theo pháp luật để phân chia đất ruộng của cụ Nguyễn Thị K để lại là ông Nguyễn Đức N và ông Nguyễn Đức D. Chia và giao cho ông Nguyễn Đức D và ông Nguyễn Đức N mỗi người được quản lý, sử dụng 312,75m². Giao cho ông Nguyễn Đức D được quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích tại xứ đồng Cời- Lô Lội có diện tích là 466m² có vị trí tứ cận như sau: Phía Đông đường giao thông (bờ đất), phía Tây đường giao thông (bờ đất), phía Nam ruộng nhà ông Nguyễn Đức S2 (Đàn), phía Bắc nhà ông Nguyễn Văn V1 (Trục). Ghi nhận sự tự nguyện của ông N, bà H về việc không yêu cầu ông D phải trích trả giá trị phần diện tích đất vượt quá so với kỷ phần diện tích đất được chia là 153,25m². Ông Nguyễn Đức D được nhận phần di sản do cụ K để lại là 159,50m² đất canh tác nông nghiệp, phần diện tích ông N được chia nằm tại 05 xứ đồng còn lại có tổng diện tích 2502m²- 466m²= 2036m².
- Về chi phí xem xét thẩm định: Chi phí xem xét thẩm định là 16.000.000 đồng. Ông N và ông D mỗi người phải chịu 1/2 tiền chi phí xem xét, thẩm định là 8.000.000 đồng. Xác nhận ông D đã nộp đủ, ông N phải trả lại ông Dân số tiền là 8.000.000 đồng.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các đương sự.
Ông N, bà H không phải chịu án phí DSPT.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thế Bình |
|
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Hoàng Ngọc Sơn |
Nguyễn Tuyết Mai |
Đỗ Thế Bình |
Bản án số 89/2024/DSPT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp thừa kế tài sản
- Số bản án: 89/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản giữa Ông Nguyễn Đức Dân, sinh năm 1962 và Ông Nguyễn Đức Nhân, sinh năm 1959.
