Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/DS-PT

Ngày: 25/11/2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Cao Gia.

Các thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm và bà Vũ Ngọc Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sáu, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 67/2024/TLPT-DS ngày 11/10/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 95/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; có mặt.

Địa chỉ: thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Cao Hoài T1, sinh năm 1968; có mặt.

2.2. Bà Phạm Thị H, sinh năm: 1958; có đơn đề nghị xử vắng mặt. Cùng địa chỉ: thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.

3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Lê Thị Thu S, sinh năm 1972 (vợ ông T1); địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Cao Hoài T1 tham gia tố tụng (Theo văn bản uỷ quyền ngày 12/8/2024); có mặt.

3.2. Ủy ban nhân dân xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Ngọc H1 - sinh năm 1966 (Theo văn bản uỷ quyền số 02/GUQ ngày 22/7/2024); có mặt.

3.3. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện S, tỉnh Phú Yên

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Văn P - Phó giám đốc Chi nhánh và ông Lê Hoài T2 - Viên chức Chi nhánh (Theo văn bản uỷ quyền số 05/GUQ-CNVPĐKĐĐ ngày 22/7/2024); có mặt.

3.4. Ủy ban nhân dân huyện S, tỉnh Phú Yên.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Trần Thị T3 - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện S (Theo văn bản số 1233/GUQ-UBND ngày 10/7/2024); có mặt.

3.5. Ông Nguyễn Ngọc T4, sin năm: 1969; vắng mặt.

3.6. Anh Nguyễn Đức T5, sinh năm: 1996; vắng mặt.

3.7. Bà Lê Thị P1, sinh năm: 1975; vắng mặt.

3.8. Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1988; có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Nguyễn Văn T trình bày: Anh T là chủ sử dụng đất hợp pháp của thửa đất số 82, tờ bản đồ số 103, diện tích 4.195,7m² (đo đạc năm 2013) tại thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số DD 825109, số vào sổ CS 09570 ngày 07/4/2022, có phần đất giáp ranh với đất của gia đình ông T1 và bà H. Quá trình sử dụng đất thì ông T1 và bà H lấn chiếm đất của anh T, phá hoại hoa màu và ngăn cản không cho anh T sử dụng đất. Ủy ban nhân dân xã E hoà giải không thành, anh T khởi kiện yêu cầu Toà án buộc ông Cao Hoài T1 trả lại phần đất lấn chiếm khoảng 1.012,7m², bà Phạm Thị H trả lại phần đất lấn chiếm khoảng 229,5m², giao lại nguyên trạng tài sản.

* Bị đơn Cao Hoài T1, đồng thời là đại diện theo uỷ quyền của bà Lê Thị Thu S (vợ ông T1) trình bày: Gia đình ông tự khai phá phần đất hiện nay gia đình ông đang ở từ năm 1993, đất giáp ranh đất của ông Nguyễn Ngọc T4 (chủ cũ của bán đất cho anh T đang tranh chấp với gia đình ông). Đến năm 2005, 2006 thì gia đình ông và gia đình ông T4 lần lượt được nhà nước cấp GCNQSDĐ, và sử dụng ổn định, có ranh mốc rõ ràng. Đến năm 2021, anh T mua lại đất của gia đình ông T4 và bảo ông chỉ ranh mốc và trồng trụ bê tông vào tháng 8/2021. Đến năm 2022 anh T tự nhổ trụ bê tông và làm đơn khởi kiện ra xã nói gia đình ông lấn đất. Uỷ ban xã E hoà giải có nói sổ của anh T bị chồng lấn lên sổ của gia đình ông, đề nghị thu hồi sổ để đo đạc cấp lại cho đúng hiện trạng nhưng anh T không đồng ý và khởi kiện ra Toà án. Đất của gia đình ông đã được cấp sổ và sử dụng ổn định, trồng cây ăn trái hơn chục năm. Sổ đỏ của anh T cấp chồng lấn lên đất theo sổ đỏ của ông, bà UBND xã E và UBND huyện S đều thừa nhận việc cấp sổ đỏ cho anh T là cấp sai nên ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T.

* Bị đơn bà Phạm Thị H trình bày: Ngày 04/6/1995, vợ chồng bà có nhận chuyển nhượng 08 sào đất tại thôn T, xã E, huyện S của ông A Ma K trú tại buôn C, xã E, huyện S. Phần đất này có một phần giáp ranh với đất của ông Nguyễn Ngọc T4, sau đó ông T4 chuyển nhượng lại cho anh T thì anh T khởi kiện cho rằng bà lấn đất của anh T7 phải trả lại hơn 200m² đất cho anh T. Bà H cho rằng đất của ông T4 được cấp theo bản đồ đo đạc năm 2004 thì chỉ có 0,3 ha, nhưng khi đo đạc để cấp đổi GCNQSDĐ năm 2013 thì ông T4 tự dẫn người đi đo đạc mà không gọi người có đất giáp ranh cùng đi theo để thống nhất ranh giới, do đó diện tích đất trên GCNQSDĐ của ông T4 (nay thuộc quyền sử dụng của anh T) tăng lên so với thực tế. Các cơ quan chức năng đã xác nhận có sai sót, nhưng anh T vẫn căn cứ vào GCNQSDĐ sai sót đó để kiện cho rằng gia đình bà lấn chiếm đất, phải trả lại đất cho anh T thì bà không chấp nhận.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Đại diện Ủy ban nhân dân xã E trình bày: Năm 2005 - 2006, gia đình ông Cao Hoài T1 và ông Nguyễn Ngọc T4 được cấp GCNQSDĐ và sử dụng theo ranh mốc ổn định. Năm 2013 tiến hành đo đạc lại tổng thể và tiến hành cấp đổi GCNQSDĐ thì do sai sót của đơn vị tư vấn đo đạc và thiếu kiểm tra của xã nên diện tích của ông T4 đã bị đo chồng lấn lên phần đất của hộ ông T1 và bà H, diện tích GCNQSDĐ cấp đổi cho hộ ông T4 tăng lên so với thực tế hiện trạng sử dụng giữa các bên nhưng không ai phát hiện ra. Khi anh T nhận chuyển nhượng từ gia đình ông T4 và khiếu nại ra UBND xã E, ông Lê Hoài T2 là nhân viên thực hiện việc đo đạc cấp đổi GCNQSDĐ của hộ ông T4 khi cấp đổi sai diện tích thực tế nên đã giải thích, vận động nộp lại sổ để đo đạc, cấp lại cho đúng hiện trạng nhưng anh T không đồng ý.

- Đại diện Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai và đại diện Ủy ban nhân dân huyện S thống nhất trình bày: Ngày 29/12/2005, hộ ông Nguyễn Ngọc T4 được cấp GCNQSDĐ lần đầu số AD 085772 với thửa đất số 127 (-1, 2) tờ bản đồ số 61 (đo năm 2004) diện tích 3.183m² (đất ONT 400 m², trồng cây lâu năm BHK 2.783m²). Ngày 29/9/2006, hộ ông Cao Hoài T1 được cấp GCNQSDĐ lần đầu số AE 411518 với thửa đất số 97 tờ bản đồ số 61 (đo năm 2004) diện tích 3.705m² đất trồng cây hàng năm khác, có vị trí liền kề lô đất của ông T4. Quá trình cấp đổi GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Ngọc T4 năm 2015 đúng như đại diện UBND xã E trình bày là có sai sót. Trên cơ sở hồ sơ của UBND xã E trình ký, kiểm tra đúng bản đồ đo đạc năm 2013 thì Chi nhánh văn phòng tham mưu cho U thừa và cấp đổi GCNQSDĐ cho hộ ông T4, từ GCNQSDĐ số AD 085772 số vào sổ cấp CH 00078 ngày 29/12/2005 đối với thửa đất số 127 (-1, 2) tờ bản đồ số 61 (bản đồ năm 2021) diện tích 3.183m² (trong đó đất ONT 400,0m², BHK: 2.783,0m²) thành GCNQSDĐ số BT 175424, số vào sổ cấp CH 06096 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ 103 (đo đạc năm 2013), diện tích 4.812,7m² (ONT 200,0 m², BHK: 4.612,7m²) và GCNQSDĐ số BT 175425, số vào sổ cấp CH 06097 đối với thửa đất số 80, tờ bản đồ 103 (đo đạc năm 2013), diện tích 428,7m² (ONT 200,0m², BHK: 228,7m²) cấp cùng ngày 29/5/2015, nhưng do thiếu kiểm tra nên không phát hiện diện tích sai lệch so với GCNQSDĐ cũ và nguyên nhân sai lệch. Đến năm 2017, con ông T4 là Nguyễn Đức T5 được bố mẹ tặng cho và tách thửa đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ 103 (đo đạc năm 2013) nêu trên thành hai thửa là thửa số 82 diện tích 4.195,7m² đất trồng cây hàng năm khác (chuyển nhượng cho đồng sở hữu anh Nguyễn Văn T và anh Nguyễn Văn B, sau đó anh B chuyển nhượng lại phần của mình cho anh T và hiện anh T xin cấp đổi số đứng tên anh T) và thửa số 83 diện tích 617m² (ONT 200,0 m²; BHK: 417, 0m²) (chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T6). Nhân viên của chi nhánh đã làm quy trình đo tách thửa nhưng chủ quan nên chỉ đo chiều dài phần đất thửa đất 83 mà không đo đạc lại hết toàn bộ thửa đất nên cũng không phát hiện sự sai lệch diện tích. Vì vậy, từ khi cấp đổi số năm 2015 đến khi tách thửa, đổi số năm 2017, GCNQSDĐ của hộ ông T4, anh T5 đã bị cấp chồng lấn lên đất của ông Cao Hoài T1 đã được cấp GCNQSDĐ năm 2006 và đang sử dụng. Khi làm thủ tục chuyển nhượng giữa anh T5 với anh T, anh T5 với ông T6, nhân viên kiểm tra thấy khớp đúng số liệu trên GCNQSDĐ cũ và số liệu các thửa đã tách nên chấp nhận cho chuyển nhượng và chuyển hồ sơ về Sở Tài nguyên môi trường tỉnh P để cấp sổ mới cho người nhận chuyển nhượng là anh T, đăng ký biến động trên GCNQSDĐ cho ông T6. Khi anh T, ông T6 phát sinh tranh chấp với ông Cao Hoài T1, có gửi đơn khiếu nại tới Ủy ban nhân dân xã E, gửi đơn khiếu nại tới Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện S, chi nhánh đã kiểm tra lại toàn bộ quy trình đo đạc cấp đổi GCNQSDĐ, tách thửa, cấp mới GCNQSDĐ cho người nhận chuyển nhượng thì phát hiện sai sót, cụ thể GCNQSDĐ số DD 825109, số vào sổ CS 09570 ngày 07/4/2022 của anh T đã chồng lấn lên diện tích đất của ông Cao Hoài T1 (GCNQSDĐ số AE 411518) là 1.682m², chồng lấn lên diện tích đất của bà Phạm Thị H là 512,6m². Giấy CNQSDĐ số CH 498902, số vào sổ CH 07575 ngày 19/4/2017 của anh Nguyễn Đức T5 (nay chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T6) đã chồng lấn lên đất của ông Cao Hoài T1 (GCNQSDĐ số AE 411518) là 67,6m2. Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện kết hợp với Ủy ban nhân dân xã E làm việc với các bên vào ngày 03/4/2023, chỉ rõ những sai sót và đề nghị anh T, ông T6 cấp đổi lại GCNQSDĐ theo ranh giới trước đây giữa ông Cao Hoài T1, bà Phạm Thị H với ông Nguyễn Ngọc T4 (chủ đất cũ) nhưng anh T và ông T6 không đồng ý. Toàn bộ quy trình cấp đổi, tách thửa, và nguyên nhân dẫn đến sai sót, chồng lấn trên GCNQSDĐ của anh Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn T6 và ông Cao Hoài T1, bà Phạm Thị H, Ủy ban nhân dân huyện S đã có văn bản số 2068/UBND ngày 11/12/2023 cung cấp thông tin theo yêu cầu của Toà án. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc T4 trình bày: Nguồn gốc thửa đất anh T đang đứng tên sử dụng và có tranh chấp với ông T1 bà H là của vợ chồng ông (ông Nguyễn Ngọc T4, Lê Thị P1). Vợ chồng ông sử dụng từ năm 1993 đến năm 2006 thì được cấp GCNQSDĐ theo bản đồ đo đạc năm 2004, có giáp cận đất của ông T1 và bà H. Từ khi sử dụng đến khi con trai ông T4 là anh T5 chuyển nhượng lại cho anh T, anh B và vợ chồng ông T6, ranh giới giữa đất của gia đình ông và ông T1, bà H ổn định, không có thoả thuận xê dịch, thay đổi và không có tranh chấp. Khi có chủ trương đo đạc tổng thể đất đai năm 2013 thì ông có xin đo đạc cấp đổi GCNQSDĐ. Ông cũng không quan tâm đến số liệu diện tích có thay đổi vì mốc giới giữa các bên vẫn nguyên vẹn, không thay đổi, tranh chấp gì cả. Khi con trai ông và mẹ (là vợ cũ của ông T4) chuyển nhượng cho anh T thì ông không biết và không tham gia. Nay cơ quan chức năng xác định việc tách thửa, cấp đổi GCNQSDĐ cho anh T (nguồn gốc là của gia đình ông) sai lệch, chồng lấn lên đất của ông T1 và bà H, ông đề nghị Toà giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Đức T5 có văn bản trình bày: Anh T5 được bố mẹ tặng cho một phần đất, sau đó mẹ anh là bà Lê Thị P1 vì nợ nần nên yêu cầu anh bán cho bà trả nợ thì anh cũng đứng tên bán cho vợ chồng ông T6 và anh T trên giấy tờ, còn thực tế bán bao nhiêu, giao tiền và giao đất như nào thì anh không biết. Anh cũng không biết diện tích đất có sai lệch so với diện tích đất thực tế của gia đình anh. Đề nghị Toà án xem xét.

* Người có quyề quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị P1 có văn bản trình bày: Phần đất rẫy sau nhà của bà do con trai bà (Nguyễn Đức T5) đứng tên sổ đỏ. Do bà vay nợ của bà Huệ T7 100.000.000đ không có tiền trả nên bà có nói bà H2 mua đất bà bán cho, bà H2 đồng ý mua và bán lại cho anh Nguyễn Văn B, anh B viết giấy tay cho bà P1 ký tên và anh B lấy sổ đỏ (GCNQSDĐ) mà không ra xem thực tế tại lô đất.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn B trình bày: Anh B và em trai là nguyên đơn Nguyễn Văn T mua chung phần đất vườn của anh T5 (nguồn gốc đất do cha mẹ là ông T4 bà P1 tặng cho), sau đó anh B chuyển nhượng lại cho anh T và anh T làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đứng tên anh T. Anh B đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên đã quyết định: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 157, 165, 227, 228, 235, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 100, 166, 167, 202, 203 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T đối với ông Cao Hoài T1 và bà Phạm Thị H về việc: Yêu cầu ông T1 trả anh T nguyên trạng tài sản phần đất diện tích 1012,7m² (đo thực tế là 1226,5m²), nằm trong thửa đất số 97 tờ bản đồ 61 đo năm 2004 đã được cấp GCNQSDĐ số AE 411518 ngày 29/9/2006 cho ông Cao Hoài T1 bà Lê Thị Thu S, đất tọa lạc tại thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên; Yêu cầu bà H trả anh T phần đất diện tích 229,5m² (đo thực tế là 512,6 m²) nằm trong thửa đất số 128 tờ bản đồ 61 đo năm 2004 của bà Phạm Thị H, đất tọa lạc tại thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/8/2024, nguyên đơn Tĩnh kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn giữ nguyên ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn kháng cáo, nộp tạm ứng án phí trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Bị đơn H có đơn đề nghị xử vắng mặt; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan T4, T5 và P1 đã có lời khai trình bày tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn:

[2.1] Về nguồn gốc sử dụng đất của nguyên đơn Nguyễn Văn T và của hai bị đơn Cao Hoài T1, Phạm Thị H như nhận định của cấp sơ thẩm là có căn cứ. Nguyên đơn Tĩnh chỉ dẫn đo theo toạ độ giấy CNQSDĐ số DD 825109, số vào sổ CS 09570 ngày 07/4/2022 cấp cho anh T và phát sinh tranh chấp là thửa đất số 82 tờ bản đồ 103 (đo đạc năm 2013) diện tích 4.195,7m², đang chồng lấn lên thửa đất số 97 tờ bản đồ 61 đo đạc năm 2004 (là thửa số 39 tờ bản đồ 103 đo năm 2013) của ông T1 là 1.226,5m²; chồng lấn lên thửa đất số 128 tờ bản đồ 61 đo năm 2004 (là thửa số 113 tờ bản đồ 103 đo năm 2013) của bà Phạm Thị H là 512,6m². Anh T cho rằng hai diện tích đất nêu trên đã lấn chiếm vào phần đất anh được cấp GCNQSDĐ nên đòi lại.

[2.2] Tại phiên toà, nguyên đơn Tĩnh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Toà buộc ông T1 phải trả 1.226,5m², bà H phải trả 512,6m² phần đất lấn chiếm theo kết quả đo vẽ thực tế. Xét thấy, chủ đất cũ là ông Nguyễn Ngọc T4 đã xác nhận ranh giới và mốc giới thửa đất giữa đất ông T4, ông T1, bà H từ khi đo đạc bản đồ năm 2004 đến nay không thay đổi, không có thoả thuận xê dịch. Nguyên đơn T cũng xác nhận các trụ mốc gỗ, trụ bê tông làm ranh giới thửa đất là do có từ trước, nhưng việc cấp đổi giấy CNQSDĐ cho hộ ông Nguyễn Ngọc T4 năm 2015 đã tăng diện tích đất hộ ông T4 từ thửa đất 127(-12), tờ bản đổi thửa số 61 đo năm 2004 là 3.183m² lên thành 5.241,4m² (gồm 4.812,7m² thửa đất số 14 và 428,7m² thửa đất số 80). Thửa đất số 14 sau đó được tách thành hai thửa số 82 và thửa số 83 tờ bản đồ 103 đo năm 2013, hiện anh T được cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa số 82 có diện tích chồng lấn lên diện tích của ông T1 1.226,5m², chồng lấn lên diện tích đất của bà H 512,6m². Như vậy, phần diện tích anh T được cấp giấy CNQSDD đang dư 1.226,5m² + 512,6m² = 1.739,1m², tương ứng với việc đo đạc năm 2013, ông T1 đang thiếu 1.226,5m² và bà H thiếu 512,6m² so với hiện trạng sử dụng đất và các giấy CNQSDĐ của ông T4, ông T1 được cấp lần đầu, kết quả đo trích lục bản đồ năm 2004 của bà H. Đại diện UBND huyện S và đại diện UBND xã E, ông Lê Hoài T2 là nhân viên thực hiện việc đo đạc cấp đổi GCNQSDĐ từ thửa đất số 14 thành thửa đất số 82, 83 tờ bản đồ 103 (đo đạc năm 2013) xác nhận, việc cấp giấy chứng nhận có sự chồng lấn và cho rằng nguyên nhân của việc cấp chồng là do năm 2013 trong quá trình đo đạc lại, đơn vị tư vấn đo đạc đã đo sai, việc các hộ đã ký giáp ranh với nhau tại Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 18/4/2013 thực hiện không đúng quy định, nhân viên đo tách thửa chủ quan chỉ đo chiều dài phần đất tách thành thửa đất 83 theo yêu cầu của chủ đất mà không đo đạc lại hết toàn bộ thửa đất số 14 nên cũng không phát hiện sự sai lệch diện tích, từ đó dẫn đến cơ quan chuyên môn đã tham mưu xác nhận, đề nghị UBND huyện cấp đổi GCNQSDĐ đất cho hộ ông Nguyễn Ngọc T4, anh Nguyễn Đức T5 có sự sai sót dẫn đến khi anh T5 chuyển nhượng cho anh T thì Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện S đã làm thủ tục đề nghị Sở Tài nguyên môi trường tỉnh P cấp GCNQSDĐ cho anh T cũng sai, bị chồng lấn lên thửa đất số 97, 128 của ông T1 và bà H. Việc mua bán giữa anh T với anh T5 chỉ mua bán trên giấy tờ, không đo đạc thực tế nên cũng không phát hiện ra sai lệch diện tích. Điều này phù hợp với ranh giới đất các bên đang thực tế sử dụng.

[2.3] Đối với giao dịch chuyển nhượng đất giữa các bên và các giấy CNQSDĐ trước đây đã tách thửa, cấp đổi cho hộ ông T4, anh T5 và hiện nay cấp cho anh T có sai sót nhưng không có đương sự nào có yêu cầu giải quyết giao dịch vô hiệu hoặc huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cấp sơ thẩm không xét nên cấp phúc thẩm cũng không xét.

[2.4] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn mà cần chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Những nội dung khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên HĐXX không xem xét.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 157, 165, 227, 228, 235, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 100, 166, 167, 202, 203 của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1]. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Văn T đối với các bị đơn Cao Hoài T1 và Phạm Thị H về việc:

Yêu cầu ông Cao Hoài T1 trả anh Nguyễn Văn T nguyên trạng tài sản phần đất diện tích đo thực tế là 1.226,5m², nằm trong thửa đất số 97 tờ bản đồ 61 đo năm 2004 đã được cấp GCNQSDĐ số AE 411518 ngày 29/9/2006 cho ông Cao Hoài T1 bà Lê Thị Thu S, tại thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên;

Yêu cầu bà Phạm Thị H trả anh Nguyễn Văn T phần đất diện tích đo thực tế là 512,6m² nằm trong thửa đất số 128 tờ bản đồ 61 đo năm 2004 của bà Phạm Thị H, tại thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên

[2]. Về chi phí tố tụng: Buộc anh Nguyễn Văn T chịu số tiền 8.509.000đ; đã nộp đủ.

[3]. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu 600.000đ án phí dân sự sơ thẩm và 600.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được tính trừ vào số tiền 3.416.000₫ tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0001229 ngày 17/8/2022 và 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0001908 ngày 09/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Hinh, nên còn phải hoàn trả lại cho anh T 2.516.000₫ (Hai triệu năm trăm mười sáu ngàn đồng).

[4]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - TAND TX. Sông Hinh (2);
  • - CCTHADS huyện Sông Hinh;
  • - Các đương sự;
  • - Phòng KTNV;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Cao Gia

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 89/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn Nguyễn Văn T và bị đơn Cao Hoài T, Phạm Thị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger