Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU


Bản án số: 89/2022/HS-ST

Ngày 25-4-2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Văn Trường.

Ông Đặng Song Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lương Ngọc Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022, đối với các bị cáo:

  1. Danh Đ, sinh năm 2002, tại: Kiên G; Hộ khẩu thường trú: Ấp , xã V, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên G; Chỗ ở: Không có chỗ ở ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Khmer; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Văn hóa: 07/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Cha: Danh R; Mẹ: Thị Đ; Vợ, con: Chưa có. Tiền án; Tiền sự: Không
  2. Bị bắt ngày 18/9/2021. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Nguyễn Đỗ Thanh L, sinh năm 2002, tại: Phú Yên; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Thôn T, xã X, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Cha: Nguyễn Đức L; Mẹ: Đỗ Thị Kim H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không.
  4. Bị bắt ngày 29/01/2022. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Đặng Minh K, sinh năm 2000, tại: Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Văn hóa: 11/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Cha: Đặng Văn L; Mẹ: Lê Thị K; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không
  6. Bị bắt ngày 29/01/2022. Có mặt tại phiên tòa.

  7. Thái Nguyễn Trường G, sinh năm 1996, tại: Long An; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Ấp , xã T, huyện C, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Kỹ sư; Cha: Thái Văn B; Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc D; Vợ: Ngô Thị Ngọc Y; Có 01 người con sinh năm 2020; Tiền án; Tiền sự: Không.
  8. Bị bắt ngày 09/02/2022. Ngày 18/02/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Tạm giam bằng Bảo lĩnh theo Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn số 19/QĐ-VKSVT của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Có mặt tại phiên tòa.

  9. Nguyễn Minh N, sinh ngày 2001, tại: Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Công nhân; Cha: Nguyễn Văn H; Mẹ: Nguyễn Thị T; Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không
  10. Bị bắt ngày 23/01/2022. Ngày 04/3/2022 được thay thế biện pháp ngăn chặn Tạm giam bằng Bảo lĩnh theo Quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn số 27/QĐ-VKSVT của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

Nguyễn Đỗ Thanh L, sinh năm 2002; Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã X, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  1. Anh Trương Xuân C, sinh năm: 1981; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Nguyễn Tấn T, sinh năm: 1981; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Anh Danh R, sinh năm: 1983; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Có mặt tại phiên tòa.
  4. Anh Châu C, sinh năm: 1995; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
  5. Chị Thị Đ, sinh năm: 1983; Địa chỉ: số... đường Đ, Phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Có mặt tại phiên tòa.
  6. Anh Bùi Văn H, sinh năm: 2002; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
  7. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 2003; Địa chỉ: số... đường...Phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa.
  8. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 2001; Địa chỉ: số.. đường..., Phường 11, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Có mặt tại phiên tòa.
  9. Phan Ngọc T, sinh năm: 2001; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa.
  10. Anh Võ Anh H, sinh năm: 2004; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa.
  11. Anh Phan Mạnh T, sinh năm: 2001; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12 thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
  12. Triệu Thanh N, sinh năm: 1996; Địa chỉ: số.... đường... Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian thành phố Vũng Tàu thực hiện giãn cách xã hội phòng chống dịch bệnh Covid 19 theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ ( thời gian 14 ngày, bắt đầu từ 00 giờ ngày 09/9/2021), tại công trường xây dựng LA VIDA RESIDENCES (Địa chỉ: 299 Đường 3/2, Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cũng đang thực hiện phương án “Ba tại chỗ” đối với tổng số khoảng 300 công nhân tập trung ở các khu nhà ở, riêng khu nhà ở LK12 có khoảng 46 người. Danh Đ, Nguyễn Đỗ Thanh L, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N, Đặng Minh K cũng đều là công nhân làm việc tại công trường xây dựng LA VIDA RESIDENCES.

Vào khoảng 21 giờ ngày 12/9/2021, Danh Đ ra quán nước thuộc khu vực công trường LA VIDA RESIDENCES để uống nước, thấy trên bàn có 01 chiếc áo (trước đó Đ thấy có người dùng để lau bàn) tưởng là giẻ lau bàn nên Đ lau bàn mình đang ngồi và xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Đỗ Thanh L (là chủ nhân chiếc áo trên). L đi đến dùng tay đánh vào đầu Định nhưng không gây thương tích rồi L bỏ về.

Đến khoảng 21 giờ ngày 17/09/2021, Danh Đ đang ở tại khu nhà ở LK 12 của công trường cùng với một số công nhân là Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N, Bùi Văn H thấy có hai nhà cãi nhau nên cả nhóm xuống xem. Tại đây, Đ gặp L, giữa Đ và L tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, Đ định đánh L nhưng được mọi người can ngăn. L bỏ đi và gọi người làm chung ở tại công trình là: Nguyễn Minh N; Đặng Minh K; Phan Mạnh T, Võ Anh H, Phan Ngọc T nhờ những người này hỗ trợ, qua LK12 giúp L đánh Đ. Sau đó, L, K, N, T đi trước, H và T đi sau. Trên đường đi, L gọi điện thoại cho Thái Nguyễn Trường G nói Lg bị đánh tại LK12, xuống cứu. Lúc này, G đang ở cùng Triệu Thanh N, G nói với N về việc L bị đánh ở LK12 và đi gặp nhóm của L. N nghe nói vậy cũng đi tắt qua dãy nhà LK12 xem tình hình.

Trên đường đi, gần đến LK12, K có nhặt một gậy tre tròn, dài khoảng gần 100cm, N nhặt một miếng ván gỗ dài khoảng 60cm đến 80cm, G nhặt một cây xà gồ bằng sắt khoảng 70cm để cầm theo.

Khoảng 0 giờ 00 ngày 18/9/2021, tại LK12, nhóm Danh Đ đang ngồi chơi thì N đến trước, gặp nói chuyện với bà Thị Đồng là mẹ Định, còn L, K, G, Nhật, Tân đến sau. Thấy nhóm L đến thì Định đi từ trong ra sát phía ngoài của tòa LK12. Lúc này, L, K đứng phía trước, hai bên nói chuyện, khiêu khích. K cầm gậy tre lao vào đánh trước, bị nhóm Định đánh trả. L vừa chạy vào định đỡ cho K thì Định giật gậy của K, đập vào đầu L một cái khiến L ngã xuống bất tỉnh. Hai nhóm lao vào đánh nhau, nhóm Định có Định, Trãi, Nhu, còn nhóm L có K, G, Nhật. Trong đó, K dùng gậy tre, Nhật dùng ván gỗ, G dùng gậy sắt. Tân đứng ngoài, Huy tới sau cũng đứng ngoài không tham gia, Hưng có vào can ngăn nhưng bị đánh nên lùi ra ngay, N vào can ngăn khi K bị đánh và thấy L bất tỉnh thì kéo L ra. Mọi người can ngăn nên hai nhóm giải tán. Tiến đến sau, thấy mọi người chạy thì cũng chạy về luôn. Sau đó, L được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Bà Rịa.

Đến trưa ngày 18/9/2021, G, K và một số người khác sang LK12 tìm nhóm Đ để báo tin về tình trạng thương tích của L, hỏi thông tin những người tham gia vụ đánh nhau trên. Khoảng 17 giờ 00 ngày 18/9/2021, có một nhóm đông công nhân (không rõ nhân thân lai lịch) biết chuyện kéo nhau sang LK12 tìm, đuổi nhóm của Định (G, K, N có mặt nhưng đứng ngoài xem, không tham gia). Nhóm của Định sợ, trốn trên cẩu tháp, thấy vậy bà Đồng gọi điện thoại báo Công an Phường 12, thành phố Vũng Tàu xuống làm việc. Sau đó, Danh Đ đến Cơ quan công an đầu thú về hành vi gây thương tích cho L như trên.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Danh Đ, Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nên trên (các bút lục điều tra từ số 89 đến 104, từ số 116 đến 131, từ số 176 đến số 197, từ số 138 đến 153, từ số 160 đến số 175). Quá trình điều tra, K, G bị thương nhẹ, không yêu cầu xem xét xử lý hay bồi thường.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 269/TgT ngày 04 tháng 10 năm 2021 của Trung tâm Pháp y, Sở Y tế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với Nguyễn Đỗ Thanh L, kết luận: Dấu hiệu chính qua giám định: Máu tụ màng cứng đã phẫu thuật, còn ổ dịch, chưa bất thường thần kinh; Khuyết sọ phẫu thuật kích thước 38mm x 66mm, đã gắn lại bản sọ; 01 sẹo phẫu thuật trung bình; 01 sẹo dẫn lưu; 04 vết sây sát da đã lành đổi màu da ở vùng mặt, vai trái, mu tay phải, cẳng chân phải. Các thương tích nêu trên được gây ra do sự tác động tương hỗ bởi vật rắn tầy. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra hiện tại là: 45% (Bốn mươi năm phần trăm).

* Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị can:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị can thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Danh Đ đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho L 70.000.000 đồng, L xin giảm nhẹ hình phạt cho Định là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Danh Đ đầu thú, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

Cơ quan chức năng đã tiến hành thu giữ:

+ 01 (một) cây gậy tre, màu vàng nhạt, dài 75cm; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 94cm; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 66cm.

Tất cả các vật chứng nêu trên được Cơ quan điều tra Công an TP Vũng Tàu chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

*Về trách nhiệm dân sự: Bị can Danh Đ đã bồi thường thiệt hại cho bị can Nguyễn Đỗ Thanh L, L không yêu cầu gì thêm. Chủ công trường LA VIDA RESIDENCES xác định vụ việc không gây thiệt hại vật chất đối với công trường, không yêu cầu về dân sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cả, thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã nêu.

Nguyễn Đỗ Thanh L xác định gia đình đã nhận 70.000.000 đồng bồi thường khắc phục hậu quả từ gia đình bị cáo Định và không yêu cầu bị cáo Định phải bồi thường thêm.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Danh Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 xử phạt bị cáo Danh Đ từ 3 (Ba) năm, 6 (Sáu) tháng đến 4 (Bốn) năm tù.

Hành vi của các bị cáo bị cáo Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ Thanh L từ 2 (Hai) năm, 6 (Sáu) tháng đến 3 (Ba) năm tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Minh K từ 2 (Hai) năm đến 2 (Hai) năm, 6 (Sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn Minh N và Thái Nguyễn Trường G từ 2 (Hai) năm đến 2 (Hai) năm, 6 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây gậy tre, màu vàng nhạt, dài 75cm; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 94cm; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 66cm.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người làm chứng Trương Xuân C, Nguyễn Tấn T, Châu C, Bùi Văn H, Nguyễn Văn N, Phan Ngọc T, Võ Anh H, Phan Mạnh T, Triệu Thanh N tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra, căn cứ quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Về hành vi của các bị cáo: Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản sự việc và nội dung bản cáo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ xác định:

Vào khoảng 0 giờ 00 phút ngày 18/9/2021, trong khi thành phố Vũng Tàu đang thực hiện giãn cách xã hội phòng chống dịch bệnh Covid 19 theo Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ, tại công trường xây dựng LA VIDA RESIDENCES, địa chỉ số 299 đường 3/2, Phường 12, thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng đang thực hiện phương án “Ba tại chỗ” đối với tổng số khoảng 300 công nhân tập trung ở các khu nhà ở, nhưng do mâu thuẫn cá nhân, Nguyễn Đỗ Thanh L đã lôi kéo một nhóm bạn là những người làm chung tại đây, trong đó có Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N sử dụng hung khí là gậy tre, gậy sắt, ván gỗ tìm đánh nhóm của Danh Đ (gồm Danh Đ, Nguyễn Văn Trãi, Nguyễn Văn Nhu) tại khu nhà ở LK12, hậu quả Định sử dụng hung khí (gậy tre) gây thương tích cho L với tỷ lệ 45%.

2.1. Đối với bị cáo Danh Đ bị xem xét xử lý về tội Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Định phạm tội cố ý gây thương tích do bộc phát, trong lúc hai nhóm đánh nhau hỗn loạn, thấy nhóm K cầm gậy lao vào nên mới giật lại gậy của K và Định đã dùng gậy đập vào đầu L, gây thương tích cho L. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của L do thương tích gây ra hiện tại là: 45% (Bốn mươi năm phần trăm).

Hành vi của bị cáo Danh Đ đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

3.2. Đối với các bị cáo Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N bị xem xét, xử lý về tội “Gây rối trật tự công cộng”:

Hành vi dùng hung khí gây náo loạn công trường của các bị cáo Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt bình thường của số đông công nhân, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của các bị cáo L, K, G, Nhật đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 22/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố đối với Danh Đ về tội “Cố ý gây thương tích” tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự và các bị cáo Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3]. Về vai trò, tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:

[3.1]. Đối với bị cáo Danh Đ: Tuy mâu thuẫn xuất phát giữa Định và L nhưng cao trào là khi hai bên đang nói qua lại thì K cầm gậy tre lao vào đánh trước, bị nhóm Định đánh trả. L vừa chạy vào định đỡ cho K thì Định giật gậy của K, đập vào đầu L một cái khiến L ngã xuống bất tỉnh nên riêng mình bị cáo Định bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị cáo L bị thương, bị cáo Định đã tác động gia đình hỗ trợ cho bị cáo L 70.000.000 đồng, bị cáo L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với Đ, trong quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, ý kiến của vị Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi xem xét hình phạt cho bị cáo Định là có căn cứ, được chấp nhận.

[3.2]. Đối với các bị cáo gây rối trật tự công cộng:

Các bị cáo phạm tội trong trường hợp bộc phát, không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ, không có sự phân công rõ ràng khi thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm giản đơn.

[3.2.1]. Bị cáo Nguyễn Thanh L: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống nhưng bị cáo không chọn cách hóa giải văn minh mà còn chủ động lôi kéo những người bạn của mình giải quyết mâu thuẫn bằng vũ lực với Định. Bị cáo đã lôi kéo Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N sử dụng hung khí là gậy tre, gậy sắt, ván gỗ tìm đánh Danh Đ. Hậu quả của hành vi này không những khiến bị cáo bị thương tích nặng mà còn khiến những người bạn bị xử lý trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người khởi xướng nên có trách nhiệm hình sự cao nhất trong vụ án gây rối trật tự công cộng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo cũng là bị hại trong vụ án, bị cáo khai thường xuyên bị đau đầu sau chấn thương do đó Hội đồng xét xử xét thấy vì tính nhân đạo cho bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi lượng hình.

[3.2.1]. Đối với bị cáo Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N:

Các bị cáo đều là người trưởng thành tuy nhiên do đồng nóng nảy, hiếu thắng muốn chứng tỏ bản thân, nhận diện sai lầm giữa hành động nghĩa hiệp và vi phạm pháp luật, giữa bản lĩnh và hung hăng, cần quấy nên đã có hành vi gây rối trật tự công cộng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Thái Nguyễn Trường G có ông nội là liệt sĩ; bị cáo Nguyễn Minh N có ông ngoại là liệt sỹ, cụ ngoại là Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng nên Hội đồng xét xử cho các bị cáo G và Nhật được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát về việc cho các bị cáo Thái Nguyễn Trường G và Nguyễn Minh N được hưởng án treo là có căn cứ, được chấp nhận.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu nên không xem xét.

[5]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) cây gậy tre, màu vàng nhạt, dài 75cm; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 94cm; 01 (một) cây gậy bằng kim loại, dài 66cm vì liên quan trực tiếp đến tội phạm.

[6]. Các vấn đề khác:

Đối với những đối tượng còn lại trong nhóm của Định: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N có tham gia đánh nhau nhưng không biết việc nhóm của L sẽ tìm Định đánh, không có sự chuẩn bị bàn bạc trước đó và do nhóm của L lao vào đánh trước nên mới đánh trả, hành vi này của T, N chỉ vi phạm ở mức hành chính. Ngày 10/02/2022, Công an thành phố Vũng Tàu đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T, N về hành vi “Đánh nhau” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bùi Văn H chỉ vào căn ngăn, không tham gia đánh nhau nên không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với các đối tượng còn lại trong nhóm của L: T, H, T có đi chung với nhóm đến khu vực LK12 nhưng không hô hào, không tham gia đánh nhau nên không xem xét xử lý. Triệu Thanh N là quản lý, khi nghe G nói L bị đánh thì N tự đi qua xem tình hình thế nào, không được ai rủ đi và không tham gia đánh nhau, khi thấy đánh nhau thì N vào can ngăn và đưa L đi cấp cứu nên không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.

Đối với nhóm công nhân (không rõ nhân thân lai lịch) tìm đuổi đánh nhóm Danh Đ vào chiều ngày 18/9/2021, nhưng chưa gây thiệt hại hay hậu quả nghiêm trọng, Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là đúng quy định.

[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Danh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Các bị cáo Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Hình phạt:

  1. Đối với Danh Đ áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Định 3 (Ba) năm, 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2021.
  2. Đối với Nguyễn Đỗ Thanh L: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2022.
  3. Đối với Đặng Minh K: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2022.
  4. Đối với Thái Nguyễn Trường G: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 xử phạt bị cáo G 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án.
  5. Giao bị cáo G cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Cần Đước, tỉnh Long An theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Hà có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã T, huyện Cần Đước, tỉnh Long An trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

  6. Đối với Nguyễn Minh N: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 xử phạt bị cáo Nhật 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án.
  7. Giao bị cáo Nhật cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo nhật có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

    Trường hợp các bị cáo được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    (Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật Thi hành án hình sự; Nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của Bản án theo quy định của Bộ luật Hình sự).

II. Án phí:

Buộc các bị cáo Danh Đ, Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

III. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV27);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.Vũng Tàu;
  • - Công An Tp.Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS Tp.Vũng Tàu;
  • - UBND xã T, huyện Cần Đước, Long An;
  • - UBND xã H, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận;
  • - Bị cáo, bị hại, người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 89/2022/HS-ST ngày 25/04/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 89/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Danh Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Các bị cáo Nguyễn Đỗ Thanh L, Đặng Minh K, Thái Nguyễn Trường G, Nguyễn Minh N phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger