Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 889/2024/HS-PT

Ngày: 23 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết
Ông Hoàng Minh Thịnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 394/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Kim L, Trương Hán H, Lê Nguyễn Hoàng T1, Lương Minh Â, Wu Fat S, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Phan Thị C, Phạm Lê Q, Nguyễn Đình H2 do kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1980 tại Vĩnh Long; nơi thường trú: ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nơi ở: A N, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Giúp việc; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị H3; hoàn cảnh gia đình: chưa có chồng, có 01 con (sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  2. Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 3 T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: C3/18 P, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tạp vụ; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang L3 và bà Nguyễn Thị Đ; hoàn cảnh gia đình: chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  3. Trương Hán H, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: A H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: 3 C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương T2 và bà Lưu Ngọc T3; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, có 01 con (sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  4. Lê Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 201 Lô H, Chung cư N, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: D Chung cư B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chuyên viên kỹ thuật; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L4 và bà Nguyễn Thị Thu H3; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2012; con nhỏ sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  5. Lương Minh Â, sinh năm 1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 6 A, Phường H, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Tô T4 và bà Diệp A; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 01 con (sinh năm 2015); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  6. Wu Fat S, sinh năm 1956 tại Hong Kong; nơi thường trú: 06 Sunrise Gres Lowertemple S, M, Australia; nơi ở: 1 V, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Australia (Úc); con ông Pin W và bà Nui W1; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 03 con (con lớn nhất sinh năm 1973, con nhỏ nhất sinh năm 1992); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  7. Trần Quốc L1 (Trần Công L2), sinh năm 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: G P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công H4 và bà Đặng Thị B1; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  8. Phạm Hoàng H1 (tên gọi khác: H5), sinh năm 1990 tại Vĩnh Long; nơi thường trú: Ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre; nơi ở: B T, Ấp B, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C1 và bà Ngô Thị Bé L5; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2021); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  9. Phan Thị C, sinh năm 1971 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 1 Â, Phường C, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: C12/1A Tổ B, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Chí H6 và bà Lê Thị B2; hoàn cảnh gia đình: có chồng và 01 con (sinh năm 1990); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26/11/2013, Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 66/2013/HSST. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  10. Phạm Lê Q, sinh năm 1987 tại tỉnh Tiền Giang; nơi thường trú: ấp N, xã B, thị xã G, Tiền Giang; nghề nghiệp: Kỹ thuật viễn thông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T5 và bà Lê Thị N; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
  11. Nguyễn Đình H2, sinh năm 1980 tại Long An; nơi thường trú: 2 Đ, phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L6 và bà Nguyễn Thị S1; hoàn cảnh gia đình: có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2005); tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bào chữa:

  • + Luật sư Nguyễn Sơn L7, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T, có mặt.
  • + Luật sư Trương Thanh T6, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho các bị cáo Trương Hán H, Lương Minh Â, Phạm Lê Q, có mặt.
  • + Luật sư Hà Thúc Đ1, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Wu Fat S, có mặt.
  • + Luật sư Nguyễn Mạnh H7, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Trần Công L2, có mặt.

- Người phiên dịch:

Bà Huỳnh Quế K, có mặt

Ngoài ra còn có bị cáo khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 phút, ngày 04/4/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an Q1 phối hợp Công an P, Quận H kiểm tra quán cà phê “OSAKA”, địa chỉ số A N, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Ngọc T làm quản lý, phát hiện Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Nguyễn Sơn L7, Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Võ Thế H8, Phạm Lê Q và Phan Thị C đang có hành vi đánh bài thắng thua bằng tiền, nên Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an Q1 tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 10 bộ bài tây, loại 52 lá (trong đó 03 bộ đã sử dụng, 07 bộ chưa qua sử dụng), 03 cây viết bi màu xanh, 03 tờ giấy ghi điểm, 03 cái bàn gỗ, 12 cái ghế gỗ và số tiền 43.440.000 đồng, đồng thời đưa tất cả về trụ sở để làm rõ.

Quá trình điều tra đã xác định được quán cà phê “OSAKA”, địa chỉ số A N, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Thị Cẩm V đứng tên hộ kinh doanh. Năm 2018, bà V giao quán cà phê cho Nguyễn Ngọc T được toàn quyền kinh doanh, buôn bán và quản lý. Do muốn kiếm thêm thu nhập từ việc bán bài và bán nước cho khách đến uống cà phê nên T đã đồng ý cho khách đến uống nước đánh bài thắng thua bằng tiền, mỗi bộ bài Thùy bán lại cho khách lời được 10.000 đồng/bộ. Ngày 04/4/2023, Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Nguyễn Sơn L7, Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Võ Thế H8, Phạm Lê Q và Phan Thị C đến quán cà phê của T, chia làm 03 sòng để đánh bài ăn thua bằng tiền theo hình thức đánh bài binh xập xám, ghi điểm ra tờ giấy, sau khi kết thúc chơi mới tính tổng điểm thì sẽ thanh toán tiền thắng thua tương ứng với số điểm thắng hoặc thua, người về thứ nhất được 03 điểm, người về thứ hai được điểm 02 và thua người thứ nhất 01 điểm, người về ba thua 01 điểm và người về chót thua 03 điểm. Nếu có người chơi cả 03 chi bài đều thua 01 người chơi khác gọi là “sập 3 chi” thì bị trừ thêm 03 điểm và cộng điểm này cho người có bài thắng. Trường hợp trên bài người chơi có Tứ quý hoặc có 03 cái thùng (5 con bài đồng chất), 03 cái sảnh, thùng phá sảnh (5 con bài đồng chất liên tiếp), 06 đôi gọi chung là “mậu binh” thì người có các dạng bài trên thắng 03 người chơi còn lại mỗi người 06 điểm, tổng cộng là 18 điểm. Cụ thể như sau:

Sòng bài thứ 1 gồm: Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H và Wu F, tham gia đánh bài dưới hình thức binh bài xập xám ăn tiền với hình thức ăn thua là 10.000đ/01 chi/1 điểm. Tại thời điểm bị bắt quả tang, Â thắng 93 điểm (tương đương 930.000 đồng), thu giữ trong người 1.110.000 đồng, trong đó sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. T1 thua 70 điểm, (tương đương 700.000 đồng), thu giữ trong người 1.600.000 đồng, trong đó sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. H thua 104 điểm, (tương đương 1.040.000 đồng), thu giữ trong người 3.500.000 đồng, trong đó sử dụng 1.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc và Wu Fat S thua 127 điểm, (tương đương 1.270.000 đồng), thu giữ trong người 13.900.000 đồng, trong đó sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền thu giữ tại sòng thứ 1 là 20.100.000 đồng, trong đó số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.500.000 đồng.

Sòng bài thứ 2 gồm: Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Nguyễn Sơn L7 và Phạm Hoàng H1 tham gia đánh bài xập xám ăn tiền với hình thức ăn thua là 20.000đ/01 chi/1 điểm. Tại thời điểm bị bắt quả tang, L thắng 93 điểm (tương đương 1.860.000 đồng), thu giữ trong người 1.500.000 đồng, trong đó sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Luyện thua 30 điểm (tương đương 600.000 đồng), thu giữ trong người 1.480.000 đồng, trong đó sử dụng 1.200.000 đồng vào mục đích đánh bạc. L7 thua 1 điểm (tương đương 20.000 đồng), thu giữ trong người 10.500.000 đồng, trong đó sử dụng 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc và H1 thua 62 điểm (tương đương 1.240.000 đồng), không thu giữ tiền. Tổng số tiền thu giữ tại sòng thứ 2 là 13.480.000 đồng, trong đó số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.200.000 đồng.

Sòng bài thứ 3 gồm: Nguyễn Đình H2, Võ Thế H8, Phạm Lê Q và Phan Thị C2 tham gia đánh bài xập xám ăn tiền với hình thức ăn thua là 20.000đ/01 chi/1 điểm. Tại thời điểm bị bắt quả tang, H2 thua 8 điểm (tương đương 160.000 đồng), thu giữ trong người 2.880.000 đồng, trong đó sử dụng 2.800.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Huynh thua 1 điểm (tương đương 20.000 đồng), thu giữ trong người 1.660.000 đồng, trong đó sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Quí thắng 5 điểm (tương đương 100.000 đồng), thu giữ trong người 2.720.000 đồng, trong đó sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc và C2 thắng 4 điểm (tương đương 80.000 đồng), thu giữ trong người 2.600.000 đồng, trong đó sử dụng 1.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền thu giữ tại sòng thứ 3 là 9.860.000 đồng, trong đó số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.300.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Nguyễn Ngọc T, Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Nguyễn Sơn L7, Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Võ Thế H8, Phạm Lê Q và Phan Thị C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 136/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  • - Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • 1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Gá bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • 2. Xử phạt bị cáo Phan Thị C 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo C 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 3. Xử phạt bị cáo Lương Minh  09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo  10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 4. Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Hoàng T1 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo T1 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 5. Xử phạt bị cáo Trương Hán H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo H 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 6. Xử phạt bị cáo Wu Fat S 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo Wu Fat S 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 7. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo L 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 8. Xử phạt bị cáo Trần Quốc L1 (Trần Công L2) 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo L2 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 9. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng H1 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo H1 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 10. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H2 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo H2 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • 11. Xử phạt bị cáo Phạm Lê Q 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
  • Phạt bổ sung bị cáo Q 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt cho các bị cáo khác; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong các ngày từ 04 đến 08/4/2024, các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Kim L, Trương Hán H, Lê Nguyễn Hoàng T1, Lương Minh Â, Wu Fat S, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Phan Thị C, Phạm Lê Q, Nguyễn Đình H2 có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

1. Phần xét hỏi và phần hỏi:

  • 1.1. Bị cáo Nguyễn Ngọc T trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.2. Bị cáo Nguyễn Thị Kim L trình bày: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.3. Bị cáo Trương Hán H trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.4. Bị cáo Lương Minh  trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.5. Bị cáo Phạm Lê Q trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.6. Bị cáo Lê Nguyễn Hoàng T1 trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.7. Bị cáo Wu Fat S trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.8. Bị cáo Trần Công L2 trình bày: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.9. Bị cáo Phan Thị C trình bày: Chồng bị cáo đang bệnh nằm liệt giường, chỉ còn bị cáo là người chăm lo nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.10. Bị cáo Phạm Hoàng H1 trình bày: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 1.11. Bị cáo Nguyễn Đình H2 trình bày: Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

2. Phần tranh luận:

2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

  • 2.1.1. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Kháng cáo của các bị cáo nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
  • 2.1.2. Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa, Bản án cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ và đúng pháp luật; hình phạt đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng với hành vi của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2.2. Phần tranh luận của các bị cáo và người bào chữa:

  • 2.2.1. Luật sư Nguyễn Sơn L7 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc T trình bày: Bị cáo là người trong coi quán nước, bị cáo chỉ là người mua giúp bộ bài cho những người khác, không nhằm mục đích vụ lợi, đánh bạc. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân tốt, đã ăn năn hối cải. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 2.2.2. Luật sư Trương Thanh T6 bào chữa cho các bị cáo Trương Hán H, Lương Minh Â, Phạm Lê Q trình bày: Các bị cáo có tình tiết mới là đã nộp 10,2 triệu cho ngân sách nhà nước; các bị cáo đã nộp giấy xác nhận cư trú rõ ràng do Công an phường nơi cư trú của các bị cáo xác nhận; các bị cáo có công ăn việc làm ổn định; các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình; các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên và không thuộc trường hợp cấm hưởng án treo. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 2.2.3. Bị cáo Lê Nguyễn Hoàng T1 trình bày: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo đang bị tai biến, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo đã nộp đủ số tiền mà bản án sơ thẩm tuyên. Bị cáo đã ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 2.2.4. Luật sư Hà Thúc Đ1 bào chữa cho bị cáo Wu Fat S trình bày: Bị cáo là người nước ngoài năm nay đã tuổi cao, có nhiều bệnh nền, nhưng không có ai thân thích tại Việt Nam; bị cáo đã ăn năn hối cải, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt từ phạt tù sang phạt tiền, để bị cáo được trở về nước chữa bệnh.
  • 2.2.5. Luật sư Nguyễn Mạnh H7 bào chữa cho bị cáo Trần Công L2 trình bày: Bị cáo tham gia đánh bạc chỉ với mục đích vui chơi. Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có đơn xin bảo lãnh của công ty bị cáo làm; gia đình bị cáo là người có công cách mạng; bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo cũng đã nộp đủ số tiền mà bản án sơ thẩm tuyên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.
  • 2.2.6. Các bị cáo khác không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của Kiểm sát viên.

2.3. Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho các bị cáo và các bị cáo giữ nguyên quan điểm về phần tranh tụng của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

3. Phần bị cáo nói lời sau cùng:

Các bị cáo cùng trình bày nội dung: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Kính mong HĐXX chấp nhận kháng cáo cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phan Thị C, Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Phạm Lê Q thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của các bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

[2.1] Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 04/4/2023, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã có hành vi sử dụng địa điểm do mình được toàn quyền kinh doanh, buôn bán và quản lý là quán cà phê “OSAKA”, địa chỉ số A N, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cho 12 bị cáo gồm: Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Nguyễn Sơn L7, Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Võ Thế H8, Phạm Lê Q và Phan Thị C chia làm 03 sòng để đánh bài ăn thua bằng tiền theo hình thức đánh bài binh xập xám nhằm kiếm thêm thu nhập từ việc bán bài (lời 10.000 đồng/01 bộ bài tây) và bán nước thì bị phát hiện bắt quả tang. Cụ thể:

Sòng bài thứ 1 gồm: Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H và Wu Fat S. Â sử dụng 1.000.000 đồng, T1 sử dụng 1.000.000 đồng, H sử dụng 1.500.000 đồng và W2 sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.500.000 đồng.

Sòng bài thứ 2 gồm: Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Nguyễn Sơn L7 và Phạm Hoàng H1. H1 không mang theo tiền, L sử dụng 1.000.000 đồng, L2 sử dụng 1.200.000 đồng, L7 sử dụng 3.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 5.200.000 đồng.

Sòng bài thứ 3 gồm: Nguyễn Đình H2, Võ Thế H8, Phạm Lê Q và Phan Thị C. H2 sử dụng 2.800.000 đồng, H8 sử dụng 1.000.000 đồng, Q sử dụng 1.000.000 đồng và C sử dụng 1.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 6.300.000 đồng.

[2.2] Bị cáo Nguyễn Ngọc T nhận thức được hành vi gá bạc, các bị cáo Phan Thị C, Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Phạm Lê Q nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng và quản lý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân tại địa phương, là một trong các nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, một phần ảnh hưởng đến đời sống kinh tế của các gia đình và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

[2.3] Với hành vi nêu tại mục [2.1] và nhận định tại mục [2.2], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và xét xử các bị cáo Phan Thị C, Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Phạm Lê Q phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc T

[3.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xét thấy bị cáo gá bạc cho nhiều người tham gia đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo T 01 (một) năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo T thực hiện.

[3.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo T đã nộp số tiền 20.200.000 đồng (Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0006742 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo hoàn cảnh gia đình khó khăn phải nuôi con nhỏ đang ăn học. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo T.

[4] Xét kháng cáo xin hưởng giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Phan Thị C

[4.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xét thấy bị cáo C có nhân thân xấu từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” (đã được xóa án tích), nay bị cáo lại tiếp tục đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo C 01 (một) năm tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo C thực hiện.

[4.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết mới có căn cứ giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo C; chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo C.

[5] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Lương Minh Â

[5.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo  không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo  09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo  thực hiện.

[5.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo  xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo  đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003925 ngày 13/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Â, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Â.

[6] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Nguyễn Hoàng T1

[6.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo T1 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo T1 thực hiện.

[6.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T1 xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo T1 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003916 ngày 10/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động (Xác nhận của Công an Phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh); mẹ bị cáo đang bị tai biến; huy hiệu 65 năm tuổi đảng của chú ruột bị cáo. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T1, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo T1.

[7] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trương Hán H

[7.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo H thực hiện.

[7.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo H đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003917 ngày 10/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo H.

[8] Xét kháng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền của bị cáo Wu Fat S

[8.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Wu Fat S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo Wu Fat S 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.

[8.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Wu Fat S kháng cáo xin chuyển hình phạt chính sang hình phạt tiền nhưng không cung cấp được tình tiết mới có căn cứ cho bị cáo được chuyển hình phạt chính sang hình phạt tiền. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Wu Fat S; chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Wu Fat S.

[9] Xét kháng cáo xin hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt tiền của bị cáo Nguyễn Thị Kim L

[9.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo L 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo L thực hiện.

[9.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo L đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007010 ngày 24/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo L.

[10] Xét kháng cáo xin hưởng án treo hoặc chuyển sang hình phạt tiền của bị cáo Trần Quốc L1 (Trần Công L2)

[10.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo L2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo L2 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo L2 thực hiện.

[10.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L2 xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo L2 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007011 ngày 24/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo có bà nội Lê Thị T7 là mẹ liệt sĩ; bà ngoại Võ Thị Đ2 được phong tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam anh hùng”; cậu là liệt sỹ Đặng Văn H9. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L2, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo L2.

[11] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Phạm Hoàng H1

[11.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo H1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo H1 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo H1 thực hiện.

[11.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H1 kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết mới có căn cứ giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo H1; chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo H1.

[12] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Đình H2

[12.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo H2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo H2 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo H2 thực hiện.

[12.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H2 xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo H2 đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003946 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bị cáo đang chăm sóc cho mẹ vợ đang bị bệnh tim. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H2, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo H2.

[13] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Lê Q

[13.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xét thấy bị cáo đánh bạc ở quán cà phê, là nơi có nhiều người qua lại, tập trung, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự tại địa phương, nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội, từ đó xử phạt bị cáo Q 09 (chín) tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo Q thực hiện.

[13.2] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Q xuất trình thêm tình tiết mới là sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Q đã nộp số tiền 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003948 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng tình tiết này không làm thay đổi đáng kể tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Q, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Q.

[14] Ghi nhận bị cáo Nguyễn Ngọc T đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 20.200.000 đồng (Hai mươi triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0006742 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận bị cáo Lương Minh  đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003925 ngày 13/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận bị cáo Lê Nguyễn Hoàng T1 đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003916 ngày 10/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận bị cáo Trương Hán H đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003917 ngày 10/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thị Kim L đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007010 ngày 24/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận bị cáo Trần Công L2 đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0007011 ngày 24/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Đình H2 đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003946 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Ghi nhận bị cáo Phạm Lê Q đã nộp số tiền phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm là 10.200.000 đồng (Mười triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003948 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

[15] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[16] Án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Phan Thị C, Lương Minh Â, Lê Nguyễn Hoàng T1, Trương Hán H, Wu Fat S, Nguyễn Thị Kim L, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Nguyễn Đình H2, Phạm Lê Q phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Kim L, Trương Hán H, Lê Nguyễn Hoàng T1, Lương Minh Â, Wu Fat S, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Phan Thị C, Phạm Lê Q, Nguyễn Đình H2; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. [1]. Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 01 (một) năm tù về tội “Gá bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo T 20.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0006742 ngày 21/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. [2]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Phan Thị C 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo C 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

  3. [3]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Lương Minh  09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo  10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Lương Minh  đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0003925 ngày 13/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. [4]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Hoàng T1 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo T1 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Lê Nguyễn Hoàng T1 đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0003916 ngày 10/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. [5]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Trương Hán H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo H 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Trương Hán H đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0003917 ngày 10/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. [6]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Wu Fat S 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Wu Fat S 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

  7. [7]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo L 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thị Kim L đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0007010 ngày 24/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  8. [8]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Trần Quốc L1 (Trần Công L2) 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo L2 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Trần Quốc L1 (Trần Công L2) đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0007011 ngày 24/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  9. [9]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng H1 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo H1 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

  10. [10]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình H2 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo H2 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Nguyễn Đình H2 đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0003946 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

  11. [11]. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Phạm Lê Q 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

    Phạt bổ sung bị cáo Q 10.000.000 đồng để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Ghi nhận bị cáo Phạm Lê Q đã nộp đủ số tiền phạt bổ sung là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0003948 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Kim L, Trương Hán H, Lê Nguyễn Hoàng T1, Lương Minh Â, Wu Fat S, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Phan Thị C, Phạm Lê Q, Nguyễn Đình H2 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh; (12)
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Bị cáo; (11)
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Đức Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 889/2024/HS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (phúc thẩm)

  • Số bản án: 889/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Thị Kim L, Trương Hán H, Lê Nguyễn Hoàng T1, Lương Minh Â, Wu Fat S, Trần Quốc L1 (Trần Công L2), Phạm Hoàng H1, Phan Thị C, Phạm Lê Q, Nguyễn Đình H2; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 136/2024/HS-ST ngày 02/4/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger