|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 888/2024/DS-PT Ngày: 30/9/2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên
Các Thẩm phán:
- Bà Lê Thị Mỹ Nhung
- Bà Huỳnh Thị Như Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân- Kiểm sát viên.
Ngày 30/9/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố H, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 621/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 8 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 2601/2024/DS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 7089/2024/TLPT-DS ngày 18/9/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5789/2024/QĐ-PT ngày 10/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ C, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mạc Minh Q, sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: 1 Chung cư T, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố H.
Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ.
Địa chỉ trụ sở: 8 Đ, Phường A, quận G, Thành phố H
Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: B N, phường A, thành phố T, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982 (có mặt)
Địa chỉ: A Midtown Lô M, khu phố F, phường T, Quận G, Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Vũ Thị H, sinh năm 1982 (có mặt).
Địa chỉ: B N, phường A, thành phố T, Thành phố H. - Bà Hồ Thị Kim N1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: E V, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 11/3/2024, các bản tự khai, biên bản công khai chứng cứ và hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Hồng N có ông Mạc Minh Q là người đại diện theo hợp pháp trình bày:
Qua sự giới thiệu của nhân viên kinh doanh Công ty cổ phần Đ (gọi tắt là “Công ty Đ”) về dự án “B” toạ lạc tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Ngày 10/06/2022, ông Nguyễn Hồng N có ký Phiếu đặt cọc với mục đích giữ quyền mua 01 nền đất (ký hiệu mã nền A14, thửa 148, tờ bản đồ 61) thuộc dự án Bảo Lộc R tại xã L, Huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Tổng giá bán: 2.220.305.000 đồng.
- Phương thức thanh toán: PTTT chuẩn (7 ngày thanh toán 30% kể từ ngày đặt cọc), PTTT nhanh 50% (7 ngày thanh toán đủ 50% kể từ ngày đặt cọc), PTTT nhanh 95% (7 ngày thanh toán đủ 95% kể từ ngày đặt cọc)”.
- Hình thức thanh toán: Bên B sẽ đặt cọc cho bên A bằng hình thức tiền mặt hoặc chuyển khoảng vào số tài khoản do bên A chỉ định như sau:
Chủ tài khoản: Vũ Thị H, số tài khoản: 1982789789999 tại Ngân hàng TMCP Q1.
Thực hiện thỏa thuận, ông N đã chuyển khoản số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng vào tài khoản cá nhân của bà Vũ Thị H - giám đốc Công ty cổ phần Đ. Ngày 17/06/2022, ông N đã chuyển khoản số tiền thanh toán đợt 1 30% là 566.091.500 đồng vào tài khoản cá nhân của bà Vũ Thị H. Ngày 27/06/2022, ông N đã chuyển khoản số tiền thanh toán đợt 2 20% là 444.061.000 đồng vào tài khoản cá nhân của bà Vũ Thị H. Tổng cộng số tiền ông N đã chuyển khoản số tiền 1.110.153.000 đồng vào tài khoản cá nhân của bà Vũ Thị H.
Tuy nhiên qua thông tin truyền thông cũng như xem xét hồ sơ gồm Phiếu đặt cọc, Giấy uỷ quyền, ông N cho rằng Công ty Cổ phần Đ không có quyền nhận tiền cọc và tiền thanh toán. Lý do, Giấy uỷ quyền giữa cá nhân bà Vũ Thị H và ông Ngô Duy P không được công chứng, chứng thực theo đúng quy định pháp luật nên hoàn toàn không có giá pháp lý. Ngoài ra, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Ngô Duy P thì chỉ có ông P được nhận tiền cọc, tiền thanh toán.
Hiện trạng đất sử dụng tại nơi mà được gọi là dự án Bảo Lộc Riverside V là đất trồng cây lâu năm chưa được phép chuyển đổi mục đích sử dụng sang đất ở. Qua tìm hiểu tại các cơ quan nhà nước thuộc tỉnh Lâm Đồng và huyện B xác nhận địa phương chưa có cấp phép và không có dự án mang tên Bảo Lộc R Villa tại xã
L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Ông N nhận thấy dự án Bảo Lộc Riverside V mà công ty đang chào bán là không có thật. Công ty đã tư vấn, quảng cáo dự án không đúng theo quy định của luật đầu tư, luật đất đai, luật kinh doanh bất động sản, luật nhà ở... và có hành vi lừa dối, lừa đảo khách hàng. Nếu tiếp tục thực hiện theo hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Từ các căn cứ trên, ông N khẳng định Phiếu đặt cọc ngày 10/06/2022 vô hiệu do lừa dối.
Trên tinh thần thương lượng, ngày 24/09/2022, ông N có gửi văn bản đề nghị qua đường bưu chính với nội dung đề nghị Công ty H2 lại 50% tiền đặt cọc và tiền thanh toán 02 đợt tổng cộng là 1.060.152.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, một trăm mười triệu, một trăm năm mươi hai ngàn đồng). Tuy nhiên, ngày 28/09/2022, ông N nhận được thông báo về yêu cầu thanh toán đợt 3 số tiền 999.137.250 đồng và nếu không thanh toán sẽ mất tiền cọc và tiền thanh toán đợt 1 và 2 là 1.110.153.000 đồng.
Ngày 04/10/2022, ông N tiếp tục gửi thư đề nghị lần 2 với yêu cầu Công ty hoàn trả lại 100% tiền đặt cọc và tiền thanh toán 02 đợt tổng cộng là 1.110.153.000 đồng. Tuy nhiên, Công ty đã từ chối và cố tình chiếm đoạt tài sản của ông N. Do số tiền cọc này ông N chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của bà Vũ Thị H nên bà H phải có nghĩa vụ liên đới cùng Công ty hoàn trả lại số tiền đã nhận. Vì vậy, ông N yêu cầu:
- + Tuyên “Phiếu đặt cọc” ngày 10/6/2022 ký kết giữa Công ty Cổ phần Đ và ông Nguyễn Hồng N vô hiệu.
- + Buộc Công ty Cổ phần Đ và bà Vũ Thị H có trách nhiệm liên đới hoàn trả số tiền 1.110.153.000 đồng và tiền lãi chậm trả phát sinh tính từ ngày 24/09/2022 (ngày nguyên đơn gửi T1 đề nghị yêu cầu hoàn trả tiền cho bị đơn) đến ngày 20/6/2024 (20 tháng 26 ngày) với lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) là: 20 tháng 26 ngày x 0,83% x 1.110.153.000 = 193.499.667 đồng, tổng cộng là: 1.110.153.000 + 193.499.667 = 1.303.602.667 đồng (Một tỷ ba trăm linh ba triệu sáu trăm linh hai nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng)
Bị đơn- Công ty cổ phần Đ có ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty cổ phần Đ xác nhận: Ngày 10/06/2022 có ký Phiếu đặt cọc để bán 01 nền đất cho ông N, giá sản phẩm, phương thức, hình thức thanh toán như lời nguyên đơn trình bày.
Bị đơn cũng xác nhận ông N đã thanh toán cho bị đơn tổng số tiền 1.110.153.000 đồng thông qua số tài khoản của bà Vũ Thị H; đồng thời sau đó bà H đã chuyển lại số tiền này cho bị đơn.
Theo hợp đồng đã ký giữa hai bên, ông N có nghĩa vụ thanh toán đợt 3 cho Công Ty với số tiền là 999.137.250 đồng chậm nhất là ngày 07/7/2022. Tuy nhiên, ngày 02/7/2022 ông N gửi đơn xin gia hạn thời gian thanh toán số tiền còn lại đến ngày 27/9/2022 với lý do chưa cân đối được tài chính. Sau khi Công ty X đã chấp nhận đơn xin gia hạn của ông N.
Đến hết ngày 27/9/2022, ông N không thanh toán đợt 3. Ngày 28/9/2022, Công Ty phát hành Thông báo về việc yêu cầu ông N thực hiện nghĩa vụ đóng tiền với nội dung: (i) Công Ty đề nghị ông N thanh toán đúng thời gian đã gia hạn số tiền đợt 3 là 999.137.250 đồng và (ii) Đến ngày 07/10/2022, ông N không hoàn thành nghĩa vụ thanh toán số tiền đợt 3 thì sẽ mất toàn bộ số tiền cọc và thanh toán đợt 1, đợt 2 là 1.110.153.000 đồng. Tuy nhiên ông N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đợt 3. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán đợt 3, làm ảnh hưởng đến việc triển khai dự án nên Công ty không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan- bà Vũ Thị H trình bày:
Bà là người đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần Đ. Công ty Đ có kế hoạch xin chủ trương đầu tư dự án Bảo Lộc R. Ông Ngô Duy P đã ủy quyền cho bà H để thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một số thửa đất nhằm thực hiện dự án, trong đó có thửa 148 tờ bản đồ số 61, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
Bà H thống nhất với nội dung trình bày của bị đơn- bà đã nộp đầy đủ số tiền của ông N vào quỹ tiền mặt của Công ty Cổ phần Đ. Bà H xác định trong việc tranh chấp giữa ông N và Công ty Cổ phần Đ, bà không có trách nhiệm cá nhân, vì vậy bà không đồng ý chịu trách nhiệm liên đới với Công Ty Đ trả lại tiền cho ông N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Kim N1 trình bày:
Bà N1 là vợ của ông N. Bà N1 xác định số tiền 1.110.153.000 đồng mà ông N thanh toán cho Công ty Cổ phần Đ là tài sản riêng của ông N, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông N.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số số 2601/2024/DS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố H đã tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn- ông Nguyễn Hồng N.
- - Tuyên bố Phiếu đặt cọc ngày 10/6/2022 ký giữa ông Nguyễn Hồng N và Công ty Cổ phần Đ vô hiệu.
- - Buộc Công ty Cổ phần Đ phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hồng N tổng số tiền: 1.303.652.667 (Một tỷ ba trăm lẻ ba triệu sáu trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng trong đó tiền gốc 1.110.153.000 (một tỷ một trăm mười triệu một trăm năm mươi ba nghìn) đồng và tiền lãi chậm trả: 193.499.667 (một trăm chín mươi ba triệu bốn trăm chín mươi chín nghìn sáu trăm sáu mươi bảy) đồng.
Kể từ ngày ông Nguyễn Hồng N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty Cổ phần Đ không trả số tiền trên thì hàng tháng Công ty Cổ phần Đ phải chịu thêm phần tiền lãi đối với số tiền chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các bên cùng thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Hồng N về việc buộc bà Vũ Thị H phải liên đới cùng Công ty Cổ phần Đ trả cho ông Nguyễn Hồng N số tiền đã nhận 1.110.153.000 và tiền lãi chậm trả: 193.499.667 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.
Ngày 02/7/2024, nguyên đơn- ông Nguyễn Hồng N kháng cáo đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm, buộc bà H liên đới trả tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- - Đại diện bị đơn và bà Vũ Thị H đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 20/6/2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án số 2601/2024/DS-ST, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa. Ngày 02/7/2024, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo. Căn cứ Khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, thì kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét.
[2] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về hợp đồng đặt cọc, bị đơn có trụ sở tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức thụ lý giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về tố tụng: Bà Hồ Thị Kim N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ
hai, nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà N1 theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ “Phiếu đặt cọc” ngày 10/6/2022 ký giữa ông Nguyễn Hồng N và pháp nhân Công ty Cổ phần Đ có bà Vũ Thị H là người đại diện theo pháp luật. Căn cứ Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015, giao dịch đặt cọc giữa hai bên là đúng quy định của pháp luật về mặt hình thức.
Về nội dung, mục đích của Phiếu đặt cọc ngày 10/6/2022 là “giữ quyền mua nền đất” có ký hiệu mã nền A14, thửa 148, tờ bản đồ 61 thuộc dự án B Riverside tại xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Tuy nhiên tại thời điểm ký đặt cọc, khu đất này chưa được phép chuyển mục đích sử dụng và dự án chưa được cấp phép. Như vậy “Phiếu đặt cọc” này không hội đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nên vô hiệu, do vi phạm Điều 123 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Khoản 4 Điều 12; Khoản 1 Điều 168 Luật đất đai năm 2013.
Theo “Phiếu đặt cọc” ngày 10/6/2022, đã có ghi rõ nội dung thỏa thuận chỉ định hình thức thanh toán là chuyển vào tài khoản Vũ Thị H, số tài khoản 1982789789999 tại Ngân hàng TMCP Q1.
Căn cứ các chứng từ chuyển khoản và sự thừa nhận của các đương sự, có cơ sở xác định nguyên đơn đã chuyển tiền đặt cọc và 02 đợt thanh toán vào tài khoản cá nhân của bà Vũ Thị H - Giám đốc Công ty Đ. Sau khi nhận tiền từ ông N bà H đã chuyển giao đủ cho Công ty Đ theo các phiếu thu các ngày 11/6, 18/6 và 28/6/2022. Công ty Đ cũng đã có giấy xác nhận thanh toán đợt 1 và đợt 2 cho ông N là Công ty đã nhận đủ số tiền 1.110.153.000 đồng. Như vậy bà H đã hoàn thành trách nhiệm chuyển tiền đã nhận của ông N cho Công ty Đ, việc hợp đồng vô hiệu không có lỗi từ cá nhân của bà H.
Do đó việc nguyên đơn kháng cáo yêu cầu bà H có trách nhiệm liên đới cùng Công ty Đ hoàn trả số tiền 1.303.652.667 đồng cho nguyên đơn là không có căn cứ để được chấp nhận.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định tại Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[6]. Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148; Điều 227; Điều 228; Khoản 1 Điều 308 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 123; Điều 328; Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 168 Luật Đất đai năm 2013
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn- ông Nguyễn Hồng N.
Giữ y Bản án dân sự sơ thẩm số 2601/2024/DS-ST ngày 20/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố H;
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- ông Nguyễn Hồng N:
- - Tuyên bố “Phiếu đặt cọc” ngày 10/6/2022 ký giữa ông Nguyễn Hồng N và Công ty Cổ phần Đ vô hiệu.
- - Buộc Công ty Cổ phần Đ phải có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Hồng N tổng số tiền: 1.303.652.667 (Một tỷ, ba trăm lẻ ba triệu, sáu trăm năm mươi hai nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy) đồng; Trong đó tiền gốc là 1.110.153.000 (một tỷ, một trăm mười triệu, một trăm năm mươi ba nghìn) đồng và tiền lãi chậm trả là 193.499.667 (một trăm chín mươi ba triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy) đồng.
1.2 Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà Vũ Thị H liên đới cùng bị đơn hoàn trả tiền.
2. Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chưa thi hành trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bị đơn phải chịu 51.109.580 (Năm mươi mốt triệu, một trăm lẻ chín nghìn, năm trăm tám mươi) đồng.
- - H1 lại cho ông Nguyễn Hồng N tổng số tiền tạm ứng án phí đã nộp 26.568.360 đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn ba trăm sáu
mươi đồng) theo Biên lai thu tiền số AA/2022/0007985 ngày 13/02/2023 và Biên lai thu tiền số BLTU/23P 0025999 ngày 01/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố H.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0027896 ngày 23/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố H.
Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Mỹ Tiên |
Bản án số 888/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 888/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN Thành phố H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
